|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 21/2025/DS-PT Ngày 16-6-2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Hiếu.
Thẩm phán: Ông Phạm Tuấn Minh, bà Tòng Thị Hiền.
Thư ký phiên toà: Bà Đào Thu Hương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La: Bà Hoàng Thị Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 16/6/2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 25/2025/TLPT-DS ngày 11 tháng 4 năm 2025 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2025/DS-ST ngày 06 tháng 3 năm 2025 của Toà án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 31/2025/QĐ-PT ngày 28 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1962; địa chỉ: Tiểu khu F, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là: Tổ dân phố F, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La), có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm: 1959; địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là: Tổ dân phố D, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La), có mặt.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1960; địa chỉ: Tiểu khu D, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sơn La (nay là: Tổ dân phố D, phường M, thị xã M, tỉnh Sơn La), có mặt.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dụng đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Ngày 18/02/2015, vợ chồng ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 cho ông Phan Văn T vay số tiền 160.000.000 đồng. Khi vay mượn, các bên có làm Giấy vay tiền thoả thuận đến ngày 18/4/2015 ông T phải thanh toán đủ số tiền gốc và lãi theo lãi suất ngân hàng. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ, ông Phan Văn T đã không thực đúng nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết trong Giấy vay tiền ngày 18/02/2015, nên ông T đã nhiều lần viết giấy cam kết trả nợ số tiền 160.000.000 đồng, hẹn ngày 20/12/2020 sẽ thanh toán khoản nợ.
Từ ngày 28/7/2021 đến ngày 12/10/2023 ông T mới trả cho vợ chồng ông H, bà H1, tổng số tiền 35.000.000 đồng, cụ thể:
Ngày 28/07/2021 trả 3.000.000 đồng; ngày 05/09/2021 trả 2.000.000 đồng; Ngày 09/10/2021 trả 2.000.000 đồng; Ngày 11/11/2021 trả 2.000.000 đồng; Ngày 11/12/2021 trả 2.000.000 đồng; Ngày 10/01/2022 trả 2.000.000 đồng; Ngày 10/02/2022 trả 2.000.000 đồng; Ngày 10/03/2022 trả 1.500.000 đồng; Ngày 11/04/2022 trả 1.500.000 đồng; Ngày 17/05/2022 trà 1.500.000 đồng; Ngày 11/06/2022 trả 1.500.000 đồng; Ngày 11/07/2022 trả 1.500.000 đồng; Ngày 12/08/2022 trả 1.500.000 đồng; Ngày 09/09/2022 trả 1.000.000 đồng; Ngày 11/10/2022 trả 1.000.000 đồng; Ngày 11/11/2022 trả 1.000.000 đồng; Ngày 10/12/2022 trả 1.000.000 đồng; Ngày 10/05/2023 trả 2.000.000 đồng; Ngày 10/06/2023 trả 1.000.000 đồng; Ngày 12/07/2023 trả 1.000.000 đồng; Ngày 11/08/2023 trả 1.000.000 đồng; Ngày 16/09/2023 trả 1.000.000 đồng; Ngày 12/10/2023 trả 1.000.000 đồng.
Ngoài ra, ngày 01/01/2017 bà Nguyễn Thị H2 (vợ ông T) trả hộ ông T cho ông H2, bà H1 số tiền 5.000.000 đồng.
Tổng số tiền ông T đã trả cho ông H2, bà H1 là 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).
Từ ngày 12/10/2023 đến nay, ông T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho vợ chồng ông H2, bà H1. Ông H2, bà H1 đã nhiều lần yêu cầu ông T thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng đều không đạt được kết quả. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của ông H2, bà H1, ông H2, bà H1 khởi kiện đề nghị Toà án buộc ông Phan Văn T phải thanh toán số tiền cụ thể như sau:
- Tiền nợ gốc còn thiếu là 120.000.000 đồng,
- Tiền lãi trong hạn chưa trả đối với khoản vay 160.000.000 đồng theo Giấy vay tiền ngày 18/02/2015 đến ngày 01/01/2017 (Thời điểm Bộ luật dân sự 2015 có hiệu lực) là 22 tháng, với mức lãi suất cơ bản theo Quyết định số 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng N là 9%/năm, tương ứng với số tiền 26.400.000 đồng; từ ngày 02/01/2017 đến ngày 21/12/2020 (ngày cam kết trả nợ cuối cùng) là 47 tháng, với mức lãi suất 10%/năm, tương ứng với số tiền 62.400.000 đồng. Tổng số tiền lãi trong hạn chưa trả là: 88.800.000 đồng.
Tiền lãi trên nợ lãi chưa trả tỉnh từ ngày 01/01/2017 đến ngày 21/12/2020 (ngày cam kết trả nợ cuối cùng) là 24.340.000 đồng.
Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả (120.000.000 đồng) tính từ ngày 22/12/2020 tính đến ngày 30/9/2024 là 47 tháng, với mức lãi suất 10%/năm. Tại phiên toà nguyên đơn bổ sung tính lãi từ ngày 22/12/2020 đến ngày xét xử (ngày 06/3/2025) là 50 tháng, tương ứng với số tiền 74.700.000 đồng.
Tổng số tiền gốc và lãi ông H2, bà H1 yêu cầu ông T phải trả là 307.840.000 đồng
*Bị đơn ông Phan Văn T trình bày như sau:
Cuối năm 2012 và năm 2013 ông nhiều lần đến gia đình ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 vay tiền, cụ thể: Lần 1 vay 3.000.000 đồng; lần 2 vay 7.000.000 đồng; lần 3 vay 10.000.000 đồng, tổng tiền vay là 20.000.000 đồng. Đến hạn trả nợ ông đến nhà bà H1, ông H để thanh toán khoản tiền vay, nhưng ông H hỏi ông có vay nữa không? do ông đang cần tiền nên có vay thêm 25.000.000 đồng. Tổng số tiền ông vay là 45.000.000 đồng và 5.000.000 đồng tiền lãi của khoản vay trước. Các đợt vay đều lập thành văn bản và có chữ ký của các bên, giấy tờ do bà H1, ông H giữ. Thời gian sau ông thanh toán cho ông H, bà H1 04 đợt tổng số tiền 35.000.000 đồng và đều ghi sổ bà H1, ông H (ông không giữ các giấy tờ này). Do ông chưa trả được hết tiền vay nên bà H1, ông H đã tính lãi từ 15%/tháng đến 20%/tháng và ép ông viết giấy vay nợ lên đến 110.000.000 đồng và ngày 18/02/2015 tiếp tục ép viết giấy nợ với số tiền 160.000.000 đồng, thời hạn thanh toán đến hết ngày 18/4/2015. Đến ngày 01/01/2017 vợ ông là bà Nguyễn Thị H2 đã trả cho bà H1 thay cho ông 5.000.000 đồng, do ông chưa thanh toán được hết khoản nợ nên ông đã nhiều lần viết giấy cam kết trả nợ cho ông H2 bà H1, đến năm 2020 giữa ông và ông H2, bà H1 thống nhất cho ông trả dần mỗi tháng từ 1.000.000 đồng – 2.00.000 đồng và ông thực hiện việc trả tiền như thoả thuận, số tiền ông trả như ông H2, bà H1 trình bày và cung cấp cho Toà án.
Nay ông H2, bà H1 làm đơn khởi kiện yêu cầu ông phải thanh toán số tiền nợ gốc + lãi + lãi quá hạn là 307.840.000 đồng, thì ông không đồng ý, vì ông chỉ vay tổng số tiền 50.000.000 đồng và đã thanh toán được tổng số tiền 75.000.000 đồng, việc ông vay mượn tiền của ông H2, bà H1 là để ông làm ăn riêng, bà Nguyễn Thị H2 (vợ ông) không biết và bà H2 cũng không ký tên trên giấy vay tiền với ông H2, bà H1.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà là vợ của ông Phan Văn T, việc vay mượn tiền giữa ông T chồng bà và ông H2, bà H1 thì bà không biết, không được ký nhận, bà không được sử dụng tiền này với ông T. Ngày 01/01/2017 khi ông H2, bà H1 có đến nhà bà nói chuyện thì bà mới biết việc ông T có nợ tiền ông H2, bà H1 nên bà có trả số tiền 5.000.000 đồng cho gia đình ông H2, bà H1. Bà cam đoan không liên quan đến việc ông Phan Văn T vay mượn tiền của ông H2 và bà H1. Đối với số tiền 5.000.000 đồng bà trả thay ông T, bà không đề nghị ông T phải hoàn trả cho bà và không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Toà án tiến hành ghi lời khai của ông Vì Văn C, ông C trình bày: Năm 2014 – 2015 ban Q, xã T thông báo cho các hộ dân nộp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để so sánh lại đất, gia đình ông đã nộp và khoảng 02 tháng sau thì ông được ban quản lý bản thông báo giấy chứng nhận của ông bị mất nên ông đã làm thủ tục cấp lại giấy chứng nhận. Ông khẳng định không quen biết gì ông T, không biết việc ông T có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông. Hiện nay gia đình đã được cấp lại giấy chứng nhận và sử dụng ổn định nên không liên quan gì đến vụ án của Toà án đang giải quyết. Ông không yêu cầu ông H2, bà H1, ông T phải trả giấy chứng nhận cũ và không yêu cầu bồi thường gì.
* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 06/3/2025 của Toà án nhân dân thị xã Mộc Châu đã quyết định:
Căn cứ Điều 274; khoản 1 Điều 275; Điều 280; Điều 463, 464, 465, 466, khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147; Điều 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Buộc ông Phan Văn T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 tổng số tiền 307.840.000₫ (Ba trăm linh bảy triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng), trong đó nợ gốc 120.000.000đ (Một trăm hai mươi triệu đồng), tiền lãi là 187.840.000đ (Một trăm tám mươi bảy nghìn tám trăm bốn mươi nghìn đồng). Thời hạn trả kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, lãi xuất chậm thi hành án của các đương sự.
* Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 18/3/2025 bị đơn ông Phan Văn T có đơn kháng cáo, nội dung đơn: Không nhất trí quyết định của Bản án sơ thẩm 10/2025/DS-ST ngày 06/32025 của Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La về việc chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên toà phúc thẩm:
- Ý kiến tranh luận của nguyên đơn: Giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện, nhất trí với Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 06/32025 của Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Ý kiến của bị đơn: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, không nhất trí với Bản án sơ thẩm. Trong trường hợp hai bên thoả thuận được thì bị đơn nhất trí như đã thoả thuận là trả cho nguyên đơn số tiền 160.000.000đ, khấu trừ đi 75.000.000đ bị đơn đã trả, số tiền còn lại phải trả cho nguyên đơn là 85.000.000 đồng.
- Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Hướng giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn T làm trong hạn luật định, thoả mãn về hình thức và nội dung theo quy định tại các Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, do vậy được chấp nhận giải quyết vụ án theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo bị đơn ông Phan Văn T: Về hình thức và nội dung hợp đồng vay tài sản:
[2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 và ông Phan Văn T đều thừa nhận ông T có được vay bà H1 số tiền tương đương 5 cây vàng thại thời điểm vay. Đến ngày 18/02/2015, ông T thừa nhận tự nguyện viết giấy vay nợ và tự nguyện thoả thuận sẽ trả cho bà H1 số tiền tương ứng với giá trị 5 cây vàng thời điểm đó là 160.000.000 đồng. Ông T cho rằng đã thực hiện việc thanh toán cho gia đình ông bà H - H1 số tiền 75.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông T đã không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ hợp lệ nào để chứng minh cho khoản thanh toán này nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét chấp nhận.
Mặt khác, tại cấp sơ thẩm, ông bà H - Hạnh đã cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh việc ông Phan Văn T mới chỉ thanh toán được số tiền nợ gốc là 40.000.000 đồng. Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra và xác minh, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định rằng tính đến thời điểm hiện tại, ông Phan Văn T còn phải có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị H1 số tiền nợ gốc là 120.000.000 đồng.
[2.2] Tính đến thời điểm xét xử phúc thẩm, ông T mới thanh toán tổng cộng số tiền 40.000.000đ cho nguyên đơn, còn lại số tiền nợ gốc là 120.000.000đ. Ông bà Hòa H3 nhiều lần yêu cầu ông T trả nợ, ông T đã viết các giấy cam kết trả nợ tuy nhiên đến nay ông T1 vẫn không thực hiện đúng cam kết, do đó ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ quy định tại Điều 466 Bộ luật Dân sự. Do đó, bị đơn ông Phan Văn T phải chịu lãi suất theo 3 giai đoạn:
- Lãi trong hạn chưa trả:
+ 22 tháng từ ngày 18/02/2015 đến 01/01/2017 với mức lãi suất 9%/năm tương ứng 26.400.000₫
+47 tháng từ 02/7/2017 đến 21/12/2020 với mức lãi suất 10%/năm tương ứng 62.400.000₫
- Lãi trên nợ lãi chưa trả từ 02/7/2017 đến 21/12/2020 với mức lãi suất 10%/năm tương ứng 24.340.000₫
- Lãi trên nợ gốc ( số tiền 120.000.000đ) quá hạn từ ngày 22/12/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 06/3/2025) là 50 tháng với mức lãi suất 10%/năm tương ứng 74.700.000₫
Ông Phan Văn T phải có nghĩa vụ trả cho ông Nguyễn Quốc H và bà Nguyễn Thị H1 tổng số tiền 307.840.000đ (trong đó tiền nợ gốc là 120.000.000đ, nợ lãi là 187.840.000₫)
Bản án sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 357, Điều 468, Điều 469 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu tính lãi xuất của nguyên đơn là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Từ những nhận định nêu trên, không có căn cứ chấm nhận kháng cáo của ông Phan Văn T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 06/32025 của Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Phan Văn T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên ông Phan Văn T thuộc đối tượng người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1, khoản 4 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTNQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm:
- Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Văn T, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 06/32025 của Tòa án nhân dân thị xã Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Phan Văn T.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể tử ngày tuyên án (ngày 16/6/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Lại Thị Hiếu |
Bản án số 21/2025/DS-PT ngày 16/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 21/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa NĐ ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1 và BĐ ông Phan Văn T
