|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 17-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Đào.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đinh Doãn
- Bà Đinh Thị Thươn
- Thư ký phiên tòa: Anh Nguyễn Văn Tín - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Bạch Nam Chu Lai - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12, 17 tháng 7 năm 2024, tại: Phòng xử án - Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024, Thông báo mở lại phiên tòa số 02/2024/TB-TA ngày 13 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 08/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Thông báo về thời gian, địa điểm tuyên án số 01/2024/TB-TA ngày 12/7/2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị Bích T. Tên gọi khác: không. Giới tính: nữ.
Sinh ngày: 25/01/1970, tại: huyện V, tỉnh Bình Định.
Căn cước công dân số: [...], do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/02/2022.
Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: nhân viên y tế. Chức vụ: không. Trình độ học vấn: 12/12.
Cha: Nguyễn Ngọc H (Đã hi sinh). Mẹ: Phạm Thị Hồng S, sinh năm: 1948. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con đầu trong gia đình. Chồng: không. Con: có 02 con (Lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 2002).
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 13/11/2023, hiện đang bị cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 17/11/2023 đến ngày 06/12/2023 – Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Bích T: Ông Bùi Văn P, sinh năm: 1976 - Luật sư của Công ty L3, địa chỉ: F đường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định – Vắng mặt tại phiên tòa ngày 12/7/2024; Có mặt tại phiên tòa ngày 17/7/2024.
- Bị hại:
- + Chị Hồ Thị Vĩnh H1, sinh năm: 1987, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – Có mặt tại phiên tòa ngày 12/7/2024, nhưng vắng mặt (có Đơn xin vắng mặt) tại phiên tòa ngày 17/7/2024.
- + Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1968, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – Có mặt.
- + Ông Nguyễn Văn N, sinh năm: 1984, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – Có mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1: Ông Lâm Thanh T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B, địa chỉ: G đường T, TP ., tỉnh Bình Định – Có mặt.
- 21 Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1959, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Phan Xuân B1, sinh năm: 1963, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Hồ Đức T2, sinh năm: 1957, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Bà Trần Thị H2, sinh năm: 1976, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Bà Lê Thị Q, sinh năm: 1977, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Bà Văn Thị M, sinh năm: 1971, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Anh Huỳnh Văn N1, sinh năm: 1988, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Nguyễn Thành N2, sinh năm: 1966, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Bà Hà Thị G, sinh năm: 1950, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Trương Đ, sinh năm: 1950, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Anh Lê Văn D, sinh năm: 1991, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Anh Lê Hùng P1, sinh năm: 1995, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Chị Lê Thị Phương D1, sinh năm: 1992, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Bà Lê Thị N3, sinh năm: 1983, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Đỗ Hùng C, sinh năm: 1982, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1981, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Anh Lê Văn H3, sinh năm: 1998, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm: 1993, địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Phan Văn L1, sinh năm: 1964, địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Anh Đỗ M1, sinh năm: 1986, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định.
- Ông Trần Văn L2, sinh năm: 1945, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định.
Tại phiên tòa các ngày 12 và 17/7/2024 có mặt 03 người làm chứng là: Bà Nguyễn Thị L, ông Hồ Đức T2 và ông Trần Văn L2; Còn 19 người làm chứng khác đều vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước năm 1999, một phần đất tại khu vực có tục danh H - X ở khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định là rẫy cũ của gia đình bà Nguyễn Thị L nhưng không canh tác. Đến năm 1999, thực hiện Chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc 327, ngoài phát dọn rẫy của mình, ông Hồ Đức T2 đã phát dọn và trồng keo luôn trên phần đất rẫy của gia đình bà L. Đến khoảng năm 2008 – 2009, sau khi khai thác số cây keo lá tràm này, ông T2 trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Lệ . Bà L và em ruột là ông Nguyễn Thanh B mua giống và trồng khoảng 1.200 cây keo lá tràm trên diện tích đất rẫy trên. Lúc trồng, có ông Phan Xuân B1 là người dân ở gần đó thấy, biết. Trồng xong, bà L giao lại đất và cây keo cho ông B toàn quyền quản lý, sử dụng.
Khoảng năm 2010, Nguyễn Thị Bích T gặp ông Nguyễn Văn B2 (Tên thường gọi là Bình D2, đã chết năm 2019) và ông Trương Đ để mua đất sản xuất tại khu vực X thuộc khu phố Đ, thị trấn V. Sau khi thỏa thuận xong việc mua bán, ông Bình D2 và ông Đ trực tiếp dẫn Thủy đến khu rẫy và chỉ ranh giới đất, ông Đ và ông Bình D2 chỉ rõ phần đất mà hai người bán cho T không trồng gì cả, còn phần đất rẫy trồng cây keo lá tràm khoảng 02 năm tuổi giáp ranh tại đó (Rẫy keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B) của ai thì họ không biết, họ không hề bán phần rẫy keo này cho T. Sau đó, đến khoảng năm 2016, T thuê ông Phan Văn L1 và một số người khác phát dọn, trồng keo lai trên phần đất mà ông Bình D2 và ông Đ đã bán. Trước khi phát dọn, ông B Dầu chỉ rõ đám keo lá tràm khoảng 08 - 09 năm tuổi sát cạnh đám rẫy ông Bình D2 bán cho T là của người khác. Khi phát dọn, T thuê người phát dọn lấn qua một phần diện tích trồng keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B. Ông Phan Xuân B1 đi thăm rẫy thì thấy có một nhóm người phát dọn rẫy cho T phá một số cây keo lá tràm của ông B. Vài ngày sau, ông B1 gặp bà L nên báo cho bà L biết. Bà L vào rẫy kiểm tra thì thấy T đã phát dọn, trồng cây lấn qua đất của ông B khoảng 500m², bà L gặp T hỏi tại sao phát lấn qua đất trồng keo lá tràm thì T nói lỡ phát, sau này khi khai thác keo sẽ trả lại phần đất đã lấn. Vài ngày sau, ông B1 hỏi bà L kết quả sự việc thì bà L kể lại nội dung buổi gặp với T cho ông B1 nghe.
Tại phần rẫy giáp ranh với đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B, đám keo lai của Nguyễn Thị Bích T, ông Hồ Đức T2 cho con gái là chị Hồ Thị Vĩnh H1 canh tác phần đất rẫy này. Vào khoảng tháng 12/2019, chị H1 có thuê một số người dân trồng khoảng 700 – 800 cây keo lai tại mảnh đất rẫy 811m² này. Cuối tháng 4/2022, T thuê anh Huỳnh Văn N1 dùng máy múc dọn cây làm đường để xe tải chạy vào rẫy keo của T. Sáng ngày 28/4/2022, anh Huỳnh Văn N1 điều khiển xe máy múc đến rẫy keo này, vì tin lời T nói số cây keo là của T nên anh Huỳnh Văn N1 đã thực hiện theo yêu cầu của T, phá số cây keo trên diện tích 811m² của chị Hồ Thị Vĩnh H1 trị giá 4.088.000 đồng và 19 cây keo lá tràm ông Nguyễn Thanh B trị giá 3.083.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị hủy hoại là 7.171.000 đồng.
Sau đó, mặc dù T biết rõ Cơ quan điều tra đang tiến hành xác minh làm rõ hành vi phá số cây keo trên nhưng vào ngày 31/5/2022 và ngày 01/6/2022, lợi dụng đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B ở xa khu dân cư và ông B ít vào rẫy để thăm, chăm sóc keo, T đã lén lút thuê các anh Lê Văn D, Lê Hùng P1 và một số người khác đều ở thôn Đ, xã V đến khu vực rẫy T trồng keo lai, đồng thời chỉ số cây keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B, nói với những người này: “Toàn bộ rẫy keo đều là của cô” rồi bảo nhóm anh D tiến hành khai thác. Quá trình khai thác, T thường xuyên có mặt tại rẫy keo để kiểm tra, chỉ dẫn việc khai thác. Vì tin lời của T nên nhóm của anh D đã khai thác số cây keo lá tràm của ông B. Sau đó, T tiếp tục thuê xe tải của ông Đỗ Hùng C và ông Nguyễn Văn C1 để vận chuyển số cây keo đã khai thác bán cho Công ty TNHH H4.
Đến chiều ngày 01/6/2022, bà Nguyễn Thị L đi hái điều tại rẫy của mình giáp phần đất trồng cây keo lá tràm của ông B thì phát hiện sự việc nên báo cho ông B biết đến rẫy keo ngăn nhóm của anh D không tiếp tục khai thác keo, anh D nói: “Bà T bảo khai thác nên chúng con làm, chúng con không biết là đám keo của chú”. Sau đó nhóm anh D không khai thác keo lá tràm nữa. Kết quả khám nghiệm hiện trường, giám định rừng, định giá tài sản: 106 cây keo lá tràm bị khai thác có khối lượng 10,7m³ trị giá 17.658.000 đồng, là đất rừng trồng sản xuất của hộ gia đình, cá nhân chưa được giao đất, thuê đất, chứng nhận quyền sử dụng đất.
Các hành vi trên của Nguyễn Thị Bích T đã bị khởi tố, truy tố, trong thời gian chuẩn bị xét xử, khoảng 09 giờ sáng ngày 01/12/2022, Nguyễn Thị Bích T gặp anh Lê Văn H3 đang lái xe chở cây tại khu vực thôn M, xã V. T nghĩ anh H3 là người mua bán gỗ keo nên hỏi anh H3 có mua cây keo hay không thì anh H3 nói có, nên hai bên hẹn thời gian đi xem cây để mua. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, anh H3 đến nhà T tại khu phố Đ, thị trấn V rồi T dẫn anh H3 đến tại khu vực H - X thuộc khu phố Đ, thị trấn V để trực tiếp chỉ bán các đám cây keo. Khi đến nơi, đầu tiên T trực tiếp chỉ bán cho anh H3 toàn bộ số cây keo lá tràm hơn 10 năm tuổi của ông Nguyễn Thanh B mà trước đó T thuê anh Huỳnh Văn N1 san ủi và anh D khai thác bán còn sót lại. Tiếp đó, T trực tiếp chỉ bán cho anh H3 06 đám cây keo lai khoảng từ 04 đến 05 năm tuổi (Trong đó có 01 đám cây của ông Phan Xuân B1). Vì anh H3 không rành về việc mua bán cây nên anh H3 liên lạc với anh Đ1 để nhờ anh Đ1 đi cùng mình xem cây của T. Anh Đ1 đồng ý nên anh H3 chở anh Đ1 đến khu vực H - X gặp T để T tiếp tục chỉ cây cho anh H3 và anh Đ1. Sau khi chỉ bán 07 đám cây keo nói trên, trong đó có đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B, T thỏa thuận với anh H3 và anh Đ1 mua bán 07 đám cây keo này với giá 70.000.000 đồng.
Khi thống nhất với T xong thì anh H3 và anh Đ1 về nhà và gặp ông Nguyễn Văn N và nói cho ông N biết việc T có bán 07 đám keo với giá 70.000.000 đồng rồi bảo ông N qua xem cây nếu được thì mua. Ông N đồng ý. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, anh H3 và anh Đ1 dẫn ông N đến xem đám keo mà T vừa chỉ trước đó cho anh H3 và anh Đ1. Khi đi xem xong 07 đám cây nói trên, ông N thống nhất mua và tự ước lượng giá mua từng đám cây. Cụ thể: 01 đám cây keo lá tràm nói trên là khoảng từ 4,5 đến 05 tấn cây với giá mà ông N sẽ mua là 4.500.000 đồng; 01 đám cây keo lai (Của ông Phan Xuân B1 mà T đã tự ý chỉ bán) là khoảng từ 05 đến 06 tấn nên giá mà ông N sẽ mua là 5.000.000 đồng, 05 đám cây còn lại với tổng số tiền khoảng 60.500.000 đồng. Sau khi xem xong 07 đám cây nói trên, ông N đồng ý mua với giá 70.000.000 đồng. Sau đó, nhóm ông N gặp T tại khu vực Xoài Đ2 và hai bên thỏa thuận việc mua bán 07 đám cây vừa xem với giá là 70.000.000 đồng. Ông N đưa tiền cọc 10.000.000 đồng cho T và hai bên hẹn nhau 17 giờ ngày 03/12/2022 đến nhà T để làm giấy tờ mua bán cây và giao tiền một phần trước khi khai thác.
Đến khoảng 17 giờ ngày 03/12/2022, ông N, anh Đ1, anh H3 đến nhà T để viết giấy mua bán 07 đám cây. Trước khi viết giấy mua bán, T nói với ông N là toàn bộ các đám keo là của T, bao gồm cả đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B. Vì tin vào thông tin gian dối này của T, ông N đưa cho T số tiền 50.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 10.000.000 đồng hẹn khi nào bắt đầu khai thác cây thì ông N sẽ trả đủ cho T. Sau đó, T viết “Giấy Bán Cây Keo – Không Bán đất” với nội dung bán 06 chòm cây keo tại núi H - G với giá 70.000.000 đồng rồi đưa cho ông N ký tên vào. Vì tin tưởng T nên ông N ký tên vào tờ giấy và chụp lại bằng điện thoại rồi đưa tờ giấy này cho bà T. Ông N đưa cho bà T số tiền 50.000.000 đồng rồi ông N cùng anh Đ1 và anh H3 ra về. Sau đó, ông N đưa cho anh H3, anh Đ1 mỗi người 1.000.000 đồng tiền công dẫn ông N đi xem cây.
Khoảng một tuần sau thì ông N bắt đầu khai thác 07 đám cây keo nói trên. Khi ông N đi đến tại một trong sáu đám cây keo lai mà T đã chỉ bán trước đó để khai thác thì gặp ông Phan Xuân B1. Ông B1 nói rõ cho ông N biết đám cây keo này là của ông B1 và không cho ông N khai thác nên ông N gọi điện cho T để hỏi rõ về đám cây keo này thì T nói: “Tao không có chỉ đám cây đó cho mày đâu mà mày đi cắt”. Sau đó, T thường xuyên gọi điện cho ông N đòi số tiền 10.000.000 đồng mà ông N còn nợ, ông N nói với T:“Cô chỉ cho cháu đám keo của người ta, giờ cháu mất đám keo trên dông cao mà giờ cô đòi tiền gì nữa”. T nói: “Tao cũng chỉ cho mày đủ 06 đám rồi, đám trên dông nào nữa mà mày đòi”. Vài ngày sau, T đến gặp ông N để đòi tiền. Vì sợ T làm khó khăn cho việc khai thác những đám cây còn lại nên ông N chỉ đưa cho T số tiền 5.000.000 đồng và còn nợ lại số tiền 5.000.000 đồng đến nay chưa trả. Đến sáng ngày 14/01/2023 thì ông N bắt đầu khai thác cây keo lá tràm nói trên và điều khiển xe ô tô tải, biển kiểm soát: 82C-013.16 chở số gỗ khai thác được đến Công ty TNHH H4 ở Cụm C thuộc xã V, huyện V, tỉnh Bình Định cân được 4.710 kg, số tiền 6.264.000 đồng. Sau đó, T nhiều lần gọi điện cho ông N đòi số tiền 5.000.000 đồng còn lại nhưng ông N lấy lý do không khai thác được đám cây keo của ông Phan Xuân B1 nên vẫn chưa đưa số tiền 5.000.000 đồng cho T.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị Bích T chỉ thừa nhận có chỉ bán 06 đám cây keo tại khu vực X, thuộc khu phố Đ, thị trấn V (Trong đó có đám cây keo lá tràm mà trước đây ông Nguyễn Thanh B tố cáo bà T về hành vi trộm cắp và hủy hoại tài sản) cho ông Nguyễn Văn N với giá 70.000.000 đồng và không thừa nhận việc thỏa thuận bán đám cây keo của ông Phan Xuân B1 cho ông N. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa bà Nguyễn Thị Bích T với anh Lê Văn H3 (Người mà T trực tiếp dẫn chỉ bán cây) nhưng T và anh H3 vẫn giữ nguyên lời khai của mình. Vì không rành về việc mua bán cây để khai thác nên T chỉ thỏa thuận mua bán 06 đám cây với ông N số tiền 70.000.000 đồng chứ không thỏa thuận riêng từng đám cây keo là bao nhiêu tiền. T đồng ý đối với việc ông N tự ước lượng đám cây keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B nói trên có giá mua là 4.500.000 đồng.
Đến ngày 03/02/2023, ông Nguyễn Thanh B vào thăm rẫy keo thì phát hiện đám keo lá tràm của mình đã bị người khác khai thác nên đến Công an thị trấn V để trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V đã khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định thiệt hại và định giá tài sản đám keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B mà T bán cho ông N, kết quả: 41 cây keo lá tràm trị giá 6.220.350 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, vào ngày 30/9/2022, Nguyễn Thị Bích T giao nộp 25.000.000 đồng với lý do để bồi thường thiệt hại cho các bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 và ông Nguyễn Thanh B.
Tại Bản cáo trạng số: 01/CT-VKSVT ngày 06/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích T về các tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị Bích T:
- - Về hình sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 178, điểm x khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T:
- + 06 – 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- + 06 – 09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”;
- + 06 – 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
- Sau khi tổng hợp hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử khấu trừ thời gian bị cáo Nguyễn Thị Bích T đã bị tạm giam.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên trả lại 01 điện thoại di động hiệu Realme 5i màu xanh lá đã cũ cho bị cáo Nguyễn Thị Bích T là chủ sở hữu.
- - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường:
- + Cho bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 4.088.000 đồng.
- + Cho bị hại ông Nguyễn Thanh B: 3.083.000 đồng giá trị 19 cây keo lá tràm trong vụ “Hủy hoại tài sản” + 17.658.000 đồng giá trị 106 cây keo lá tràm trong vụ “Trộm cắp tài sản” + 6.220.350 đồng giá trị 41 cây keo lá tràm trong vụ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” = 26.961.350 đồng.
- Tiền bồi thường các khoản trên được lấy từ số tiền 25.000.000 đồng hiện đang được tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước V, chi tiết như sau:
- + Bồi thường 4.088.000 đồng cho bị hại Hồ Thị Vĩnh H1.
- + Còn lại 20.912.000 đồng bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B.
- Bị cáo Nguyễn Thị Bích T còn phải tiếp tục bồi thường 6.049.350 đồng cho bị hại Nguyễn Thanh B.
- - Về số cây keo bị cáo T đang trồng trên phần đất của chị H1, ông B, buộc bị cáo T phải tự nhổ bỏ hoặc chị H1, ông B có quyền nhổ bỏ số cây này để trả đất lại cho chị H1 và ông B.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
- - Ý kiến của bị cáo T: Bị cáo cho rằng bị cáo không phạm các tội như Viện kiểm sát đã truy tố, nên không chấp nhận bản cáo trạng, luận tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo xin nhận lại điện thoại di động hiệu Realme 5i màu xanh lá và xin nhận lại số tiền 25.000.000 đồng mà bị cáo đã giao nộp tại Cơ quan điều tra.
- - Người bào chữa cho bị cáo T: Vắng mặt tại phiên tòa, không gửi bản bào chữa cho Tòa án.
- - Ý kiến của bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1:
- + Về hình sự: Bị cáo T gian dối, ngang ngược, quanh co, chối tội, ngược lại còn đổ cho chị lấn đất bị cáo; Chị không đồng ý việc xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, chị đề nghị Tòa xử nghiêm bị cáo T.
- + Về trách nhiệm dân sự: Chị yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại cho chị số tiền theo kết quả định giá là 4.088.000 đồng. Chị đề nghị Tòa buộc bị cáo T phải tự nhổ bỏ số cây keo mà bị cáo T đã tự ý trồng trên đất của chị, hoàn trả lại nguyên hiện trạng đất cho chị.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Về hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự; Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm x khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 09 tháng tù.
- + Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T bồi thường cho chị Hồ Thị Vĩnh H1 4.088.000 đồng. Căn cứ Điều 166 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo T trả lại phần diện tích đất rẫy đang lấn chiếm cho bị hại H1 theo như hiện trạng ban đầu.
- + Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động của bị cáo T đã sử dụng để gọi thuê ông Huỳnh Văn N1 lấy xe máy múc nhổ phá keo lai của chị H1.
- - Ý kiến của bị hại ông Nguyễn Thanh B:
- + Về hình sự: Ông đề nghị Tòa xử nghiêm bị cáo theo luật định.
- + Về trách nhiệm dân sự: Ông yêu cầu bị cáo T bồi thường thiệt hại cho ông số tiền 85.000.000 đồng. Ông đề nghị Tòa buộc bị cáo T phải tự nhổ bỏ số cây keo mà bị cáo T đã tự ý trồng trên đất của ông, hoàn trả lại đất cho ông.
- - Ý kiến của bị hại ông Nguyễn Văn N:
- + Về hình sự: Ông đề nghị Tòa xử bị cáo theo quy định.
- + Về trách nhiệm dân sự: Mặc dù ông bị bị cáo T lừa, đưa thông tin gian dối chỉ bán đám keo của T và cả đám keo của người khác để lấy tiền của ông, nhưng nay ông không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường.
- - Ý kiến của những người làm chứng trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án
Lời nói sau cùng của bị cáo: “Tôi không phạm các tội “Hủy hoại tài sản”, “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, vì tôi là một công dân tốt. Tôi đề nghị Quý T3 và Q1 cấp chính quyền xem xét lại, đo đạc, cắm mốc rõ ràng ranh giới đất rừng trồng của các hộ để thỏa đáng cho những người dân. Sau này nếu vẫn có mức án đối với tôi thì tôi không đồng ý, tôi không ký, tôi nói thật”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[01]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Mặc dù tại phiên tòa ngày 12/7/2024, bị cáo T yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên Bạch Nam C vì cho rằng Kiểm sát viên không vô tư, không khách quan trong khi thi hành nhiệm vụ, nhưng bị cáo không xuất trình, không cung cấp được các tài liệu, chứng cứ chứng minh. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp. Do đó, không chấp nhận yêu cầu thay đổi Kiểm sát viên của bị cáo T.
[02]. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, tuy bị cáo T khai báo quanh co, không nhận tội, ngược lại còn cho rằng các bị hại H1, B lấn chiếm đất của bị cáo. Nhưng từ những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy:
Việc xác định biến động ranh giới các thửa đất và người quản lý đất tại khu vực H – Xoài Điệp từ năm 1999 đến tháng 02/2023 đã được cơ quan chức năng xác minh, điều tra vào các ngày 15/7/2023, 19/7/2023, 26/7/2023, chỉ rõ vị trí thửa đất của chị Hồ Thị Vĩnh H1 và ông Nguyễn Thanh B mà Nguyễn Thị Bích T đã có hành vi xâm phạm (Bút lục từ số 34-54).
Về nguồn gốc số cây keo lai trên diện tích 811m² :
Ban đầu bị cáo T khai, khoảng tháng 12/2020, T tự trồng khoảng 50 cây keo lai trên diện tích này, đến ngày 28/4/2022 thì còn số khoảng 03 - 04 cây, việc trồng số keo trên chỉ có một mình T trồng, không có ai thấy biết. Đến ngày 21/9/2022, tại 02 lần hỏi cung, T thay đổi lời khai, thừa nhận số keo trên là của người khác, chiều ngày 27/4/2022, T nảy sinh ý định múc nhổ số keo này để làm đường cho xe tải chạy nên sáng ngày 28/4/2022, T nói dối với anh Huỳnh Văn N1 số keo trên là của mình và chỉ dẫn anh N1 phá bỏ keo.
Còn chị Hồ Thị Vĩnh H1 khẳng định vào khoảng tháng 12/2019, chị H1 có thuê bà Lê Thị Q, Trần Thị H2 và một số người khác trồng khoảng 700 – 800 cây keo lai tại mảnh đất rẫy này, bà Q và bà H2 khai thống nhất với lời khai của chị H1. (Bút lục: 230 – 237; 272 – 276)
Về nguồn gốc số keo lá tràm:
Ban đầu bị cáo T khai, vào năm 2010, T có gặp ông Nguyễn Văn B2 (tên thường gọi là Bình D2, đã chết năm 2019) và ông Trương Đ để mua đất sản xuất tại khu vực X thuộc khu phố Đ, thị trấn V. Sau khi thỏa thuận xong việc mua bán, ông Bình D2 và ông Đ trực tiếp dẫn Thủy đến khu rẫy và chỉ ranh giới đất. Lúc đó, phần đất của ông Đ và ông Bình D2 không trồng gì cả, ở gần đó có một hàng cây keo lá tràm khoảng 02 năm tuổi mọc giáp ranh rẫy điều của bà Nguyễn Thị L, ông B2 nói số keo lá tràm này là của ông B2 trồng trên phần đất của ông Đ để làm ranh giới với rẫy điều của bà L. Sau đó, đến khoảng năm 2016, T phát dọn và trồng keo lai trên phần đất mà ông Bình D2 và ông Đ đã bán. Lúc phát dọn, T có thuê người phát dọn lấn qua một phần diện tích trồng keo lá tràm nhưng không có ai nói gì về việc phát lấn đất. Đến ngày 31/5/2022 và ngày 01/6/2022, nhân lúc khai thác số keo lai, T thuê người khai thác luôn số keo lá tràm này. Đến ngày 21/9/2022, tại 02 lần hỏi cung, T thay đổi lời khai, thừa nhận sau khi làm việc với Công an thị trấn V về việc nhổ phá keo của chị H1, T đã biết số cây keo lá tràm là của ông Nguyễn Thanh B nhưng thấy ông B vẫn không làm gì với phần đất rẫy này nên T nảy sinh ý định lén lút khai thác để chiếm đoạt số cây keo còn lại trên rẫy của ông B. T đã nói dối với nhóm khai thác keo của anh Lê Văn D số cây keo trên là của mình rồi thuê người phát dọn, sau đó chỉ dẫn nhóm anh D khai thác số keo trên.
Bị hại Nguyễn Thanh B, các nhân chứng T, Phan Xuân B1, Nguyễn Thị L, Hồ Đức T2 khai khu vực đất trồng keo lá tràm bị T khai thác có nguồn gốc là đất rẫy cũ của cha mẹ bà Nguyễn Thị L, ông Nguyễn Thanh B. Đến năm 1999, chính quyền thực hiện dự án 327 giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình có giao diện tích đất trên cho ông Hồ Đức T2, ông T2 tiến hành phát dọn và trồng keo lá tràm. Khoảng năm 2008 – 2009, sau khi khai thác số cây keo lá tràm này, ông T2 trả lại đất cho bà Nguyễn Thị Lệ . Bà L và em ruột là ông Nguyễn Thanh B mua giống và trồng khoảng 1.200 cây keo lá tràm trên diện tích đất rẫy trên, lúc trồng, có ông Phan Xuân B1 là người dân ở gần đó thấy, biết. Trồng xong, bà L giao lại đất và cây keo cho ông B toàn quyền quản lý, sử dụng. (Bút lục: 260 – 271)
Đến khoảng năm 2016 – 2017 (không xác định được chính xác thời gian), ông Phan Xuân B1 đi thăm rẫy thì thấy có một nhóm người phát dọn rẫy cho bà T phá một số cây keo lá tràm của ông B. Vài ngày sau, ông B1 gặp bà L nên báo cho bà L biết. Bà L vào rẫy kiểm tra thì thấy T đã phát dọn, trồng cây lấn qua đất của ông B khoảng 500m², bà L gặp T hỏi tại sao phát lấn qua đất trồng keo lá tràm thì T nói lỡ phát, sau này khi khai thác keo sẽ trả lại phần đất đã lấn. Vài ngày sau, ông B1 hỏi bà L kết quả sự việc thì bà L kể lại nội dung buổi gặp với bà T cho ông B1 nghe. (Bút lục: 260 – 269; 290 – 291)
Theo kết quả xác minh vào ngày 09/6/2022 tại Ủy ban nhân dân thị trấn V, số diện tích đất rẫy trồng keo mà T thuê người nhổ phá, khai thác chưa được cấp, giao quyền sử dụng đất cho bất kỳ hộ gia đình, cá nhân nào. Về nguồn gốc số cây keo lá tràm nói trên là do bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Thanh B trồng. (Bút lục: 329)
Nhân chứng Phan Văn L1, là nhân chứng bị cáo T đề nghị Cơ quan điều tra lấy lời khai (Tại biên bản ghi lời khai ngày 31/7/2023) (Bút lục 168 – 169), khai rằng: “Vào khoảng 06 – 07 năm trước, bà T có dẫn người nam tên Bình D2 đến tại khu vực rẫy của bà T tại thị trấn V để chỉ ranh giới đất mà ông Bình D2 đã bán cho bà T để cho chúng tôi phát ranh. Lúc đó, ông Bình D2 cầm rựa đi phía trước để phát chỉ ranh giới, bà T đi phía sau ông Bình D2, tôi đi phía sau cùng để nhìn ranh cho rõ...Ông B Dầu chỉ rõ đám cây keo lá tràm khoảng 8 – 9 năm tuổi là của người khác không phải của ông Bình D2 hay của bà T...Chúng tôi phát dọn theo chỉ dẫn của ông Bình D2.”
[3]. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán phụ trách vụ án đã ra Quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung số 09/2024/HSST-QĐ vào ngày 02/02/2024; Ra Thông báo yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ số 01/2024/TB-TA vào ngày 04/7/2024 để yêu cầu điều tra, xác định lại các yếu tố cấu thành tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với Nguyễn Thị Bích T. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh có các công văn trả lời số 38/VKSVT-HS ngày 01/3/2024 và số 150/VKSVT-HS ngày 10/7/2024 có nội dung đều giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng số: 01/CT-VKSVT ngày 06/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Do vậy, căn cứ vào “Giới hạn của việc xét xử” tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án
Từ nhận định trên, qua diễn biến tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Cáo trạng số: 01/CT-VKSVT ngày 06/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm các tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[04]. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo T có thái độ phạm tội rất ngoan cố, chống đối, thể hiện ở việc: Ngoài lần phạm tội đầu tiên hủy hoại tài sản vào 28/4/2022 thì tiếp đó, trong vòng 01 tháng sau, trong khi cơ quan chức năng đang điều tra, xác minh tin báo về tội phạm thì bị cáo tiếp tục thuê người khai thác trộm 106 cây keo lá tràm của ông Nguyễn Thanh B. Không dừng lại ở đó, vào tháng 12/2022, bị cáo tiếp tục cung cấp thông tin gian dối với ông Nguyễn Văn N, nói dối 41 cây keo lá tràm còn sót lại nói trên của ông B là của mình, để bán số cây này cho ông N rồi chiếm đoạt số tiền 4.500.000 đồng. Các hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã phạm nhiều tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự quản lý xã hội tại địa phương. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc, quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật Hình sự, khấu trừ thời gian bị cáo T đã bị tạm giam, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục riêng với bị cáo và phòng ngừa chung với xã hội.
[05]. Xét bị cáo T không có tình tiết tăng nặng; Mặc dù vào ngày 30/9/2022, bị cáo T có giao nộp 25.000.000 đồng tại Cơ quan điều tra với lý do để bồi thường thiệt hại cho các bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 và ông Nguyễn Thanh B. Nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai mình nộp tiền là do có sự tác động của người thân, không phải do bản thân bị cáo tự nguyện nộp, nay bị cáo tự cho mình không phạm tội, không đồng ý bồi thường cho các bị hại và yêu cầu được nhận lại số tiền 25.000.000 đồng này. Xét thấy bị cáo không tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hay khắc phục hậu quả, nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử xét bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (Bị cáo là con của liệt sĩ Nguyễn Ngọc H), để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.
[06]. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các quy định tại các Điều 166, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự, xét:
- - Bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 yêu cầu bị cáo T bồi thường theo định giá tài sản với số tiền 4.088.000 đồng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
- - Bị hại ông Nguyễn Thanh B yêu cầu bị cáo T bồi thường tổng cộng các khoản là 85.000.000 đồng, nhưng không đưa ra được căn cứ, tài liệu nào để chứng minh nên không được chấp nhận, chỉ chấp nhận tương đương với mức thiệt hại Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện đã định giá, cụ thể là: 3.083.000 đồng giá trị 19 cây keo lá tràm trong vụ “Hủy hoại tài sản” + 17.658.000 đồng giá trị 106 cây keo lá tràm trong vụ “Trộm cắp tài sản” + 6.220.350 đồng giá trị 41 cây keo lá tràm trong vụ “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” = 26.961.350 đồng buộc bị cáo T phải bồi thường cho ông B.
- - Về bị hại ông Nguyễn Văn N, lẽ ra Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cần tạm giữ số tiền 41 cây keo lá tràm trị giá 6.220.350 đồng để trả cho chủ sở hữu số cây này là ông Nguyễn Thanh B, nhưng thấy rằng thực hiện như vậy sẽ gây khó khăn cho quá trình thi hành án nên thay vì bị cáo T bồi thường cho bị hại N, bị hại Ngôn trả lại tiền cho bị hại B thì cần tuyên bị cáo T bồi thường trực tiếp cho bị hại B. Riêng bị hại Ngôn không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại cho mình, nên không xét.
- - Số tiền 25.000.000 đồng mà bị cáo T giao nộp tại cơ quan điều tra, được niêm phong vào ngày 30/9/2022, hiện bảo quản tại Kho bạc Nhà nước V, tỉnh Bình Định (Theo Biên bản giao nhận tài sản số 04/2022/BBBG-KBVT ngày 05/10/2022 giữa bên giao tài sản: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và bên nhận tài sản: Kho bạc Nhà nước V) tiếp tục được bảo quản, tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Khi án có hiệu lực pháp luật, việc giao, nhận lại tài sản bảo quản tại Kho bạc để xử lý, đảm bảo thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chi tiết số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) được bồi thường cho bị hại Hồ Thị Vĩnh H1 4.088.000 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng); Còn lại 20.912.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm mười hai nghìn đồng) bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T còn phải tiếp tục bồi thường 6.049.350 đồng (Sáu triệu không trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm năm mươi đồng) cho bị hại Nguyễn Thanh B.
Riêng về hiện trạng khu đất rẫy trồng cây keo lá tràm của bị hại Nguyễn Thanh B và trồng cây keo lai của bị hại Hồ Thị Vĩnh H1, vụ án hôm nay đã xác định rõ nguồn gốc, ranh giới các khu đất, quyền quản lý, sử dụng đất thực tế thuộc về các bị hại B, H1, nhưng bị cáo T đã tự ý trồng keo trên phần đất này gần 02 năm nay. Tại phiên tòa, các bị hại H1, B đều yêu cầu bị cáo phải tự nhổ bỏ số cây keo này để trả lại đất cho các bị hại. Xét, yêu cầu này của các bị hại H1, B là hoàn toàn có cơ sở nên được chấp nhận. Để đảm bảo quyền lợi của đương sự, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, buộc bị cáo T phải tự nhổ bỏ toàn bộ số cây keo bị cáo T đã trồng trên khu đất của các bị hại H1, B, trả lại nguyên hiện trạng đất cho các bị hại H1 là 811m², cho bị hại B là 1.235m².
Trường hợp bị cáo T không tự nguyện nhổ bỏ keo, không trả lại nguyên hiện trạng đất cho các bị hại trong thời hạn quy định thì các bị hại H1, B được quyền định đoạt, nhổ bỏ toàn bộ số cây keo mà bị cáo T đã trồng trên đất của mình, đồng thời được quyền yêu cầu bị cáo T bồi thường chi phí phát sinh thực tế cho việc nhổ bỏ cây keo, lấy lại hiện trạng đất.
[07]. Về xử lý vật chứng: Xét: 01 điện thoại di dộng hiệu Realme 5i màu xanh lá của bị cáo, do các dữ liệu liên quan vụ án có trong điện thoại này đã được Viện kiểm sát thu giữ, nên trả lại cho bị cáo T là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
[08]. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.552.468 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
[09]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[10]. Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 về tội danh “Hủy hoại tài sản” và mức án đề nghị 09 tháng tù cho bị cáo T là tương ứng với đề nghị của Viện kiểm sát và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận; Riêng đề nghị về xử lý vật chứng không được chấp nhận.
[11]. Tội phạm đã được chứng minh nên bị cáo T chỉ được xét chấp nhận về yêu cầu được trả lại điện thoại; Các yêu cầu khác không được chấp nhận.
[12]. Ghi nhận ý kiến của các bị hại trong vụ án về đề nghị Tòa án xử nghiêm bị cáo T theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 174, khoản 1 Điều 178, Điều 55, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ vào khoản 3 Điều 106, các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các Điều 166, 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự,
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích T phạm các tội: “Trộm cắp tài sản”, “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Hủy hoại tài sản”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích T 09 (Chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 06 (Sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 09 (Chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”.
Tổng hợp hình phạt: 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án. Được khấu trừ thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/10/2023 đến ngày 13/11/2023.
- Về trách nhiệm dân sự:
Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải bồi thường thiệt hại cho các bị hại, cụ thể:
- + Bồi thường cho bị hại chị Hồ Thị Vĩnh H1 số tiền 4.088.000 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng);
- + Bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Thanh B số tiền 26.961.350 đồng (Hai mươi sáu triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn ba trăm năm mươi đồng).
- - Số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) mà bị cáo T giao nộp tại cơ quan điều tra, được niêm phong vào ngày 30/9/2022, hiện bảo quản tại Kho bạc Nhà nước V, tỉnh Bình Định (Theo Biên bản giao nhận tài sản số 04/2022/BBBG-KBVT ngày 05/10/2022 giữa bên giao tài sản: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V và bên nhận tài sản: Kho bạc Nhà nước V) tiếp tục được bảo quản, tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Khi án có hiệu lực pháp luật, việc giao, nhận lại tài sản bảo quản tại Kho bạc để xử lý, đảm bảo thi hành án được thực hiện theo quy định của pháp luật.
Chi tiết số tiền 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng) được bồi thường cho bị hại Hồ Thị Vĩnh H1 4.088.000 đồng (Bốn triệu không trăm tám mươi tám nghìn đồng); Còn lại 20.912.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm mười hai nghìn đồng) bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh B. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T còn phải tiếp tục bồi thường 6.049.350 đồng (Sáu triệu không trăm bốn mươi chín nghìn ba trăm năm mươi đồng) cho bị hại Nguyễn Thanh B.
- + Bị hại ông Nguyễn Văn N không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường thiệt hại, nên không xét.
- - Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, buộc bị cáo T phải tự nhổ bỏ toàn bộ số cây keo bị cáo T đã trồng trên khu đất của các bị hại Hồ Thị Vĩnh H1, Nguyễn Thanh B, trả lại nguyên hiện trạng đất cho bị hại H1 là 811m², cho bị hại B là 1.235m².
Trường hợp bị cáo T không tự nguyện nhổ bỏ keo, không trả lại nguyên hiện trạng đất cho các bị hại trong thời hạn quy định thì các bị hại H1, B được quyền định đoạt, nhổ bỏ toàn bộ số cây keo mà bị cáo T đã trồng trên đất của mình, đồng thời được quyền yêu cầu bị cáo T bồi thường chi phí phát sinh thực tế cho việc nhổ bỏ cây keo, lấy lại hiện trạng đất.
- Về xử lý vật chứng: Tuyên trả cho bị cáo Nguyễn Thị Bích T 01 điện thoại di dộng hiệu Realme 5i màu xanh lá của bị cáo.
(Vật chứng của vụ án có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
- Về án phí sơ thẩm: Tuyên buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.552.468 đồng (Một triệu năm trăm năm mươi hai nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mai Đào |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH về trộm cắp tài sản; lừa đảo chiếm đoạt tài sản; hủy hoại tài sản
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Hủy hoại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị Bích Thủy phạm các tội: "Trộm cắp tài sản", "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và "Hủy hoại tài sản"
