|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/KDTM-ST
Ngày: 19-7-2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thẩm phán Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Tĩnh
2. Bà Nguyễn Thị Bích Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2024/TLST-KDTM ngày 05 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-KDTM ngày 25 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1), địa chỉ: Số H đường L, Phường L, Quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Đình D, chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đình M hoặc ông Phạm Doãn C; địa chỉ: Tầng A, tòa nhà A, số I đường C, Phường D, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 58/2023/UQN-CTQ1 ngày 12/7/2023, văn bản ủy quyền số 2590/2024/UQ-KHDNMN ngày 26/3/2024) (ông Lê Đình M có mặt).
- Bị đơn: Công ty TNHH T1; địa chỉ: Số D đường A, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Kiên Thị N, chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Số A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Kiên Thị N, sinh năm 1992; địa chỉ: Số A đường L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 05/12/2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) đã vay vốn tại Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là V1) theo các hợp đồng cho vay, các khế ước nhận nợ và văn bản có liên quan với các nội dung tóm tắt như sau:
- Theo Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: QN2/22042 ngày 26/8/2022, số tiền vay là: 465.000.000 đồng; thời hạn vay: 06 tháng; lãi suất/năm: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 19%/năm, điều chỉnh 01 tháng/01 lần; ngày giải ngân: 26/8/2022; ngày đến hạn: 25/02/2023; mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ cho hoạt động cung cấp và sản xuất sản phẩm từ plastic.
- Theo Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20570-01 ngày 08/12/2020, số tiền vay là: 500.000.000 đồng; thời hạn vay: 60 tháng; lãi suất/năm: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 8.3%/năm, điều chỉnh 12 tháng/01 lần; ngày giải ngân: 08/12/2020; ngày đến hạn: 08/12/2025; mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô phục vụ mục đích đi lại của doanh nghiệp.
- Theo Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20576-01 ngày 08/12/2020, số tiền vay là: 130.000.000 đồng; thời hạn vay: 36 tháng; lãi suất/năm: Lãi suất cho vay tại thời điểm giải ngân là 19.1%/năm, điều chỉnh 01 tháng/01 lần; ngày giải ngân: 08/12/2020; ngày đến hạn: 08/12/2023; mục đích vay: Thanh toán tiền mua xe ô tô phục vụ mục đích đi lại của doanh nghiệp.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, V1 và các bên đã thống nhất áp dụng các biện pháp bảo đảm cho các tài sản còn lại như sau:
- 01 xe ô tô, nhãn hiệu Mitsubishi, số loại XPANDER CROSS, số khung MK2XRNC1WLN007641, số máy 4A91JA2582, biển số 51H-472.84 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 622673 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 04/12/2020) theo Hợp đồng thế chấp xe ô tô số H09/20571 ngày 07/12/2020.
- Bảo lãnh bằng toàn bộ tài sản cá nhân của bà Kiên Thị N theo Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22042/HDBL ngày 03/8/2022 (cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042), Hợp đồng bảo lãnh ngày 07/12/2020 (cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020), Hợp đồng bảo lãnh ngày 07/12/2020 (cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020).
Trong quá trình sử dụng vốn vay, Công ty T1 đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. V1 đã nhiều lần liên hệ và làm việc với Công ty T1 để yêu cầu hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến nay Công ty T1 vẫn tiếp tục không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ và cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng nên toàn bộ khoản vay đã bị chuyển sang nợ quá hạn.
Tạm tính đến hết ngày 06/11/2023, Công ty T1 còn nợ tổng cộng: 1.018.554.813 đồng, gồm các khoản sau tại V1: Nợ gốc quá hạn: 808.199.087 đồng; nợ lãi quá hạn: 192.205.887 đồng; lãi chậm trả: 18.149.839 đồng.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, V1 khởi kiện, đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:
- Tuyên buộc Công ty T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 06/11/2023) là 1.018.554.813 đồng, gồm các khoản sau tại V1: Nợ gốc quá hạn: 808.199.087 đồng; nợ lãi quá hạn: 192.205.887 đồng; lãi chậm trả: 18.149.839 đồng.
- Tuyên nếu Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của mục 1 thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô, nhãn hiệu Mitsubishi, số loại XPANDER CROSS, số khung MK2XRNC1WLN007641, số máy 4A91JA2582, biển số 51H-472.84 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 622673 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 04/12/2020)
- Tuyên nếu Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của mục 1 thì bà Kiên Thị N phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký với V1.
Kể từ ngày 07/11/2023, buộc Công ty T1 tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBANK
* Tòa án nhân dân Quận 11 đã tiến hành đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng đối với bị đơn Công ty T1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiên Thị N nhưng các đương sự không phản hồi ý kiến.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Lê Đình M – giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và cung cấp bảng tính lãi tạm tính đến ngày 19/7/2024, yêu cầu Tòa án:
- Tuyên buộc Công ty T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho V1 với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 19/7/2024) là 1.164.189.897 đồng, trong đó: Nợ gốc quá hạn: 808.199.087 đồng; nợ lãi quá hạn: 353.080.784 đồng, lãi chậm trả: 2.910.008 đồng. Kể từ ngày 20/7/2024, buộc Công ty T1 tiếp tục trả lãi quá hạn phát sinh theo các hợp đồng, văn bản đã ký cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số nợ cho VPBANK
- Tuyên nếu Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của mục 1 thì V1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp là 01 xe ô tô, nhãn hiệu Mitsubishi, số loại XPANDER CROSS, số khung MK2XRNC1WLN007641, số máy 4A91JA2582, biển số 51H-472.84 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 622673 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 04/12/2020).
- Tuyên nếu Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của mục 1 thì bà Kiên Thị N phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký với V1.
Đối với tài sản bảo đảm cho khoản vay 01 xe ô tô, nhãn hiệu Mitsubishi, số loại XPANDER CROSS, số khung MK2XRNC1WLN007641, số máy 4A91JA2582, biển số 51H-472.84: Ông Lê Đình M xác định tài sản này được chủ sở hữu là Công ty T1 thế chấp cho V1 để đảm bảo cho khoản vay nêu trên, đồng thời đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm.
Tại Hợp đồng thế chấp xe ô tô số H09/20571 ngày 07/12/2020, các bên thống nhất xe ô tô do Công ty T1 quản lý và sử dụng, V1 giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 622673 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 04/12/2020. Hiện nay, V1 vẫn giữ bản chính Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này. Theo Điều 8 Hợp đồng thế chấp xe ô tô số H09/20571 ngày 07/12/2020, các bên thống nhất về phương thức xử lý tài sản thế chấp, đây là sự thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản thế chấp ngay tại thời điểm khoản vay được giải ngân, cho thấy có sự phù hợp, đồng thuận về ý chí của các bên. Trên cơ sở thỏa thuận này, V1 có quyền xử lý tài sản theo phương thức mà các bên đã thống nhất và điều này đã được thể hiện tại yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân Quận 11, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên trong Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng, những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tố tụng. Việc tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, thông báo, tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; việc tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát được thực hiện đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên vẫn chưa đảm bảo thời hạn giao Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 11.
- Về nội dung vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về yêu cầu thanh toán tổng số tiền tính đến ngày 19/7/2024 là 1.164.189.879 đồng (gồm nợ gốc, tiền lãi), về quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản đảm bảo, về yêu cầu bà Kiên Thị N phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh nếu Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết Ngân hàng TMCP V (V1) khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với Công ty TNHH T1. Đây là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp huyện theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có trụ sở tại Quận A nên Tòa án nhân dân Quận 11 thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Phiên tòa xét xử vụ án được mở vào lúc 08 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 6 năm 2024 và lúc 08TEXT 3019 tháng 7 năm 2024; bị đơn Công ty T1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiên Thị N đã được thông báo về thời gian và địa điểm xét xử vụ án nêu trên nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho Công ty TNHH T1, người đại diện theo pháp luật của bị đơn đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Kiên Thị N các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Thông báo về việc thụ lý vụ án đã ghi rõ nội dung sự việc, yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn. Tuy nhiên, phía bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền gốc và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã từ bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình nên căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3.1] Về yêu cầu thanh toán nợ, lãi của nguyên đơn:
Căn cứ vào Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: QN2/22042 ngày 26/8/2022, Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20570-01 ngày 08/12/2020, Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20576-01 ngày 08/12/2020 được ký kết giữa Công ty T1 và V1, có cơ sở để xác định phía bị đơn đã vay của nguyên đơn với số tiền vay tổng cộng là 1.095.000.000 đồng (= 465.000.000 đồng + 500.000.000 đồng+ 130.000.000 đồng). Đây là giao dịch dân sự trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về hình thức và nội dung nên được thừa nhận, được bảo vệ và là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, phía bị đơn đã không thanh toán đúng hạn nên V1 đã chuyển khoản nợ của Công ty T1 sang nợ quá hạn. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc V1 khởi kiện yêu cầu phía bị đơn trả toàn bộ số nợ, lãi là phù hợp với quy định tại Điều 3 và Điều 4 Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022, Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020, Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020; Điều 95, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu về thanh toán nợ của nguyên đơn, buộc Công ty T1 thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/7/2024 với tổng số tiền là 1.164.189.897 đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 808.199.087 đồng; nợ lãi quá hạn: 353.080.784 đồng, lãi chậm trả: 2.910.008 đồng, trong đó:
- Dư nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: QN2/22042 ngày 26/8/2022: Nợ gốc 465.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 238.818.419 đồng, lãi chậm trả 2.331.834 đồng. Tổng cộng: 706.150.253 đồng.
- Dư nợ của Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20570-01 ngày 08/12/2020: Nợ gốc 299.865.751 đồng, nợ lãi quá hạn 92.111.513 đồng, lãi chậm trả 354.127 đồng. Tổng cộng: 392.331.391 đồng.
- Dư nợ của Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20576-01 ngày 08/12/2020: Nợ gốc 43.333.336 đồng, nợ lãi quá hạn 22.150.852 đồng, lãi chậm trả 224.047 đồng. Tổng cộng: 65.708.235 đồng.
Ngoài ra, phía bị đơn còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022; Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020; Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020 và các Khế ước nhận nợ cho đến ngày thực tế Công ty T1 thanh toán xong toàn bộ số nợ cho V1
[3.2] Về yêu cầu đối với tài sản thế chấp của nguyên đơn:
Hợp đồng thế chấp xe ô tô số H09/20571 ngày 07/12/2020 được ký kết theo quy định tại Điều 295, Điều 317 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc thế chấp tài sản. Hợp đồng thế chấp nói trên cũng đã tiến hành giao dịch bảo đảm tại Trung tâm đăng ký giao dịch, tài sản Thành phố Hồ Chí Minh theo đúng quy định tại Điều 298 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm.
Vì vậy, Hợp đồng thế chấp nói trên có giá trị pháp lý. Từ những nhận định trên, căn cứ Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn trường hợp phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì V1 quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại các tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô, nhãn hiệu Mitsubishi, số loại XPANDER CROSS, số khung MK2XRNC1WLN007641, số máy 4A91JA2582, biển số 51H-472.84, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 622673 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 04/12/2020.
Sô tiên thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cân thiêt khac co liên quan đê xử lý tài sản thê châp;
- Thanh toán số tiên ma phía bị đơn phai tra cho nguyên đơn theo thứ tự: Nợ gộc, tiên lai.
Sau khi đã thanh toán, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn thừa sẽ được trả lại cho Công ty T1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì Công ty T1 phải tiếp tục trả số phần tiền còn thiếu, trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và pháp luật thi hành án dân sự.
Trường hợp Công ty T1 thanh toán xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì V1 có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sở hữu.
[3.3] Về yêu cầu bà Kiên Thị N thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho bị đơn theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký với V1 khi bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1.
Tại các Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22042/HDBL ngày 03/8/2022 (cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042), Hợp đồng bảo lãnh ngày 07/12/2020 (cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020), Hợp đồng bảo lãnh ngày 07/12/2020 (cho khoản vay theo Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020) được ký kết giữa bà Kiên Thị N (bên bảo lãnh) và V1 (bên nhận bảo lãnh) đều có nội dung: “Bên bảo lãnh đồng ý, bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ hiện tại và nghĩa vụ trong tương lai gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi và các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại phát sinh từ tất cả nghĩa vụ tài chính khác của Bên được bảo lãnh đối với Ngân hàng”. Đây là cam kết tự nguyện của bà Kiên Thị N, không trái pháp luật, đạo đức xã hội, phù hợp quy định tại Điều 335, Điều 336 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, nếu Công ty T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V1 thì bà Kiên Thị N phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh đã ký với V1.
[4] Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí kinh doanh, thương mại có giá ngạch đối với yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền là 1.164.189.897 đồng của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; Điều 220; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân;
Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 210 Luật các tổ chức tín dụng năm 2024; Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 325, Điều 335, Điều 336 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 13, Điều 20 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP V (V1):
-
Buộc Công ty TNHH T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/7/2024 là 1.164.189.897 (một tỷ, một trăm sáu mươi bốn triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, tám trăm chín mươi bảy) đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 808.199.087 (tám trăm linh tám triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, không trăm tám mươi bảy đồng) đồng; nợ lãi quá hạn: 353.080.784 (ba trăm năm mươi ba triệu, không trăm tám mươi nghìn, bảy trăm tám mươi bốn) đồng, lãi chậm trả: 2.910.008 (hai triệu, chín trăm mười nghìn, không trăm linh tám) đồng, trong đó:
- Dư nợ của Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: QN2/22042 ngày 26/8/2022: Nợ gốc 465.000.000 đồng, nợ lãi quá hạn 238.818.419 đồng, lãi chậm trả 2.331.834 đồng. Tổng cộng: 706.150.253 đồng.
- Dư nợ của Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20570-01 ngày 08/12/2020: Nợ gốc 299.865.751 đồng, nợ lãi quá hạn 92.111.513 đồng, lãi chậm trả 354.127 đồng. Tổng cộng: 392.331.391 đồng.
- Dư nợ của Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020 và Khế ước nhận nợ Lần 1/ Số: H09/20576-01 ngày 08/12/2020: Nợ gốc 43.333.336 đồng, nợ lãi quá hạn 22.150.852 đồng, lãi chậm trả 224.047 đồng. Tổng cộng: 65.708.235 đồng.
Ngoài ra, Công ty TNHH T1 còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 20/7/2024 cho đến khi thanh toán xong số nợ theo lãi suất quy định trong theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay hạn mức QN2/22042 ngày 03/8/2022; Hợp đồng cho vay số H09/20570 ngày 07/12/2020; Hợp đồng cho vay số H09/20576 ngày 07/12/2020 và các Khế ước nhận nợ cho đến ngày thực tế Công ty TNHH T1 thanh toán xong toàn bộ số nợ cho Ngân hàng TMCP V (V1).
- Trường hợp phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng TMCP V (V1) có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm: 01 xe ô tô, nhãn hiệu Mitsubishi, số loại XPANDER CROSS, số khung MK2XRNC1WLN007641, số máy 4A91JA2582, biển số 51H-472.84 (Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 622673 do Phòng CSGT Công an Thành phố H cấp ngày 04/12/2020) để thu hồi nợ.
-
Buộc Công ty TNHH T1 thanh toán cho Ngân hàng TMCP V (V1) khi bản án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 19/7/2024 là 1.164.189.897 (một tỷ, một trăm sáu mươi bốn triệu, một trăm tám mươi chín nghìn, tám trăm chín mươi bảy) đồng, gồm: Nợ gốc quá hạn: 808.199.087 (tám trăm linh tám triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, không trăm tám mươi bảy đồng) đồng; nợ lãi quá hạn: 353.080.784 (ba trăm năm mươi ba triệu, không trăm tám mươi nghìn, bảy trăm tám mươi bốn) đồng, lãi chậm trả: 2.910.008 (hai triệu, chín trăm mười nghìn, không trăm linh tám) đồng, trong đó:
Sô tiên thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm sẽ được thanh toán theo thứ tự ưu tiên như sau:
- Chi phí bảo quản, bán tài sản và các chi phí cân thiêt khac co liên quan đê xử lý tài sản thê châp;
- Thanh toán số tiên ma phía bị đơn phai tra cho nguyên đơn theo thứ tự: Nợ gộc, tiên lai.
Sau khi đã thanh toán, nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm còn thừa sẽ được trả lại cho Công ty TNHH T1. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho nguyên đơn thì Công ty TNHH T1 phải tiếp tục trả số phần tiền còn thiếu, trên cơ sở phù hợp với các quy định pháp luật về tài sản bảo đảm và pháp luật thi hành án dân sự.
Trường hợp Công ty TNHH T1 thanh toán xong khoản nợ trước khi cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp thì Ngân hàng TMCP V (V1) có nghĩa vụ tiến hành các thủ tục giải chấp và trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sở hữu.
- Trường hợp Công ty TNHH T1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ theo yêu cầu của mục 1.1 thì bà Kiên Thị N phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty TNHH T1 theo các Hợp đồng bảo lãnh số QN2/22042/HDBL ngày 03/8/2022, Hợp đồng bảo lãnh ngày 07/12/2020, Hợp đồng bảo lãnh ngày 07/12/2020 đã ký với Ngân hàng TMCP V (V1).
2. Về án phí:
Công ty TNHH T1 phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm là 46.925.697 (bốn mươi sáu triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn, sáu trăm chín mươi bảy) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP V (V1) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.278.322 (hai mươi mốt triệu, hai trăm bảy mươi tám nghìn, ba trăm hai mươi hai) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0021929 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Tô Đông Đức |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
Bản án số 21/2024/KDTM-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 21/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
