Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH GIA

TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HS-ST

Ngày 26-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Khi

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Dương Công Trang

Bà Dương Thị Cúc

Thư ký phiên tòa: Bà Dương Hà Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lý Văn D, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1987 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Lý Văn L – sinh năm 1961. Con bà: Lý Thị M – sinh năm 1963. Vợ: Lý Thị V – sinh năm 1987. Con: Có 03 người con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Cùng trú tại: thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: có 03 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 17/01/2024 đến ngày 06/02/2024 được gia đình bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

2. Hoàng Văn C, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1996 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông: Hoàng Minh T – sinh năm 1974. Con bà: Lê Thị B – sinh năm 1974. Vợ: Hoàng Thị B1 - sinh năm 2003. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2021, con nhỏ sinh năm 2022. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

3. Hoàng Văn G, sinh ngày 03 tháng 5 năm 1978 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 02/12. Con ông: Hoàng Văn C1 – sinh năm 1932 (đã chết). Con bà: Hoàng Thị C2 – sinh năm 1934. Vợ: Lâm Thị T1 - sinh năm 1980. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 10 người, bị cáo là thứ mười. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B từ ngày 17/01/2024 đến ngày 06/02/2024 được gia đình bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

4. Lăng Văn C3, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1986 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông: Lăng Văn T2 – sinh năm 1929 (đã chết). Con bà: Hoàng Thị Y – sinh năm 1960 (đã chết). Vợ: Vy Thị D1 - sinh năm 1989. Con: có 03 người con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2016. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

5. Lý Văn T3, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1993 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông: Lý Văn V1 – sinh năm 1970. Con bà: Vy Thị X – sinh năm 1969. Vợ: Hoàng Thị K - sinh năm 1989. Con: có 01 người con, sinh năm 2014. Cùng trú tại: thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

6. Hoàng Văn T4, sinh ngày 18 tháng 3 năm 1990 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Hoàng Văn H– sinh năm 1958 (đã chết). Con bà: Hứa Thị B2 – sinh năm 1960. Vợ: Lê Thị V2 - sinh năm 1991. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2022. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

7. Lộc Văn T5, sinh ngày 18 tháng 5 năm 1991 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 12/12. Con ông: Lộc Văn T6 – sinh năm 1964. Con bà: Chu Thị M1 sinh năm 1961. Vợ: Lý Thị H1 - sinh năm 1993. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Không có. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

8. Lăng Văn V3, sinh ngày 02 tháng 9 năm 1981 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 06/12. Con ông: Lăng Văn Đ – sinh năm 1945. Con bà: Hoàng Thị T7 – sinh năm 1950 (đã chết). Vợ: Chu Thị S - sinh năm 1984. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2005. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 06 người, bị cáo là thứ tư. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

9. Hoàng Văn C4, sinh ngày 02 tháng 4 năm 1983 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Hoàng Văn C5 – sinh năm 1960. Con bà: Lê Thị V4 – sinh năm 1962. Vợ: Lăng Thị N - sinh năm 1976. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2010. Cùng trú tại: thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là thứ nhất. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

10. Hoàng Văn N1, sinh ngày 18 tháng 8 năm 1979 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 02/12. Con ông: Hoàng Văn V5 – sinh năm 1939 (đã chết). Con bà: Hoàng Thị T8 – sinh năm 1940. Vợ: Luân Thị V6 - sinh năm 1976. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 1997. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ năm. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

11. Hoàng Văn N2, sinh ngày 11 tháng 5 năm 1992 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 06/12. Con ông: Hoàng Văn T9 – sinh năm 1963 (đã chết). Con bà: Lăng Thị D2 – sinh năm 1962. Vợ: Hứa Thị T10 - sinh năm 1990. Con: có 03 người con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2017. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là thứ hai. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

12. Lăng Văn Ý, sinh ngày 06 tháng 11 năm 1978 tại tỉnh Lạng Sơn. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Trình độ học vấn: 02/12. Con ông: Lăng Văn H2 – sinh năm 1944 (đã chết). Con bà: Lăng Thị V7 – sinh năm 1945. Vợ: Triệu Thị T11 - sinh năm 1983. Con: có 02 người con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2001. Cùng trú tại: thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Anh, chị, em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Bị cáo tại ngoại tại nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Hoàng Văn H3, sinh năm 1978. Có mặt.
  2. Bà Hà Thị H4, sinh năm 1978. Có mặt.

Cùng trú tại: Thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại nhà của Hoàng Văn H3, sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Tổ công tác Công an huyện B, phối hợp Công an xã Q, huyện B phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang gồm các đối tượng Lý Văn D, Hoàng Văn C, Hoàng Văn G, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3. Tang vật tạm giữ: số tiền 6.500.000 đồng (sáu triệu năm trăm nghìn đồng) thu trên chiếu; 01 (một) bát sứ màu trắng có hoạ tiết màu xanh; 01(một) đĩa sứ có hoạ tiết màu vàng; 04 quân vị làm bằng bìa bao thuốc lá Thăng Long, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng; 01 (một) chiếu nhựa và các đồ vật tài liệu khác liên quan. Còn một số đối tượng khi thấy lực lượng Công an đã lợi dụng lúc hỗn loạn trốn thoát. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời đưa người cùng vật chứng về Công an huyện B để tiếp tục điều tra mở rộng vụ án.

Đến 13 giờ 00 ngày 17/01/2024, Hoàng Văn C4, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã đến Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đầu thú về hành vi đánh bạc ngày 16/01/2024 của bản thân.

Đến ngày 25/01/2024, Hoàng Văn N1, sinh năm 1979 và Hoàng Văn N2, sinh năm 1992, cùng trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đã đến Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn đầu thú về hành vi đánh bạc của bản thân.

Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng khai nhận như sau: Ngày 16/01/2024, Hoàng Văn N1 sinh năm 1979, trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đến nhà anh Hoàng Văn H3, sinh năm 1978 tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn để ăn mừng nhà mới. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Hoàng Văn N1 xuống bếp nhà anh Hoàng Văn H3 lấy một bát sứ màu trắng, một cái đĩa sứ màu trắng có hoạ tiết và một cái kéo. Hoàng Văn N1 dùng kéo cắt vỏ bao thuốc lá Thăng Long thành bốn quân vị hình tròn, một mặt màu trắng, một mặt màu vàng với mục đích dùng để đánh bạc. Do thấy trong nhà Hoàng Văn H3 đông người đang chuẩn bị ăn cơm nên Hoàng Văn N1 cất bát đĩa cùng quân vị lên trên gác nhà anh Hoàng Văn H3 rồi ngồi ăn cơm, uống rượu cùng mọi người. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm tại nhà anh Hoàng Văn H3 xong, Hoàng Văn G sinh năm 1978, trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn đứng dậy cầm lấy bát, đĩa và quân vị từ trên gác nhà anh Hoàng Văn H3, ngồi xuống sàn để đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Hoàng Văn G lấy bát đĩa xóc quân vị nhưng không ai tham gia, thấy vậy Lý Văn D, sinh năm 1987, cùng trú tại thôn N, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn ngồi xuống cầm bát đĩa xóc thì có Lăng Văn C3, sinh năm 1986, trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn ngồi xuống cùng tham gia đánh bạc. Hoàng Văn G, Lý Văn D và Lăng Văn C3 cùng nhau đánh bạc được một ván thì có Hoàng Văn C sinh năm 1996, Hoàng Văn T4 sinh năm 1990, Lộc Văn T5in sinh năm 1991, Lăng Văn V3 sinh năm 1981, Hoàng Văn N1 sinh năm 1979, Hoàng Văn N2 sinh năm 1992, Lăng Văn Ý sinh năm 1978 cùng trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, Hoàng Văn C4 sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và Lý Văn T3 sinh năm 1993 trú tại thôn K, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, cùng vừa ăn cơm nhà anh Hoàng Văn H3 xong, ngồi xuống cùng nhau đánh bạc, đặt cược bằng tiền Ngân hàng N3 đồng dưới hình thức xóc đĩa.

Các đối tượng đánh bạc đến 00 giờ 05 phút ngày 17/01/2024 thì bị lực lượng Công an huyện B phát hiện lập biên bản bắt quả tang như đã nêu ở trên.

Kết quả điều tra xác minh tổng số tiền mà các đối tượng để đánh bạc là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Chứng minh được các đối tượng sử dụng số tiền để đánh bạc như sau: Lý Văn D sử dụng 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), Hoàng Văn C sử dụng 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng), Hoàng Văn G sử dụng 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), Lăng Văn C3 sử dụng 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng), Lý Văn T3 sử dụng 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), Hoàng Văn T4 sử dụng 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng), Lộc Văn T5 sử dụng 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng), Lăng Văn V3 sử dụng 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), Hoàng Văn C4 sử dụng 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), Hoàng Văn N1 sử dụng 50.000 đồng (Ba mươi nghìn đồng), Hoàng Văn N2 sử dụng 90.000 đồng (Chín mươi nghìn đồng), Lăng Văn Ý sử dụng 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng) để đánh bạc.

Với kết quả như trên cùng với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được. Ngày 26/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự, Quyết định Khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với bị can Lý Văn D và Hoàng Văn G; Quyết định khởi tố bị can, Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị can Hoàng Văn C, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ý về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Đồng thời gửi Báo cáo về việc khởi tố bị can đối với đảng viên, cán bộ vi phạm pháp luật đến Thường trực Huyện ủy B3 đồng thời thông báo đến Đảng ủy xã Q về việc khởi tố bị can, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với cán bộ, đảng viên Lộc Văn T5.

Trong vụ án trên, sau khi ăn cơm mừng nhà mới tại nhà Hoàng Văn H3, các đối tượng cùng nhau tham gia đánh bạc, không có ai khởi xướng rủ rê mọi người đánh bạc, không có ai tổ chức đánh bạc, không có ai đứng ra thu tiền của những người tham gia đánh bạc.

Hoàng Văn N1 là người cắt quân vị, lấy bát, đĩa để đánh bạc rồi cất trên gác, Hoàng Văn G là người mang các dụng cụ sử dụng để đánh bạc cất ở trên gác xuống để đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, Lý Văn D là người cầm cái cho các đối tượng tham gia đánh bạc đặt cược. Các bị cáo trên không được hưởng lợi gì từ việc đó. Do đó, không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc hoặc Gá bạc.

Đối với Hoàng Văn H3, Hà Thị H4 là chủ nhà nơi các bị cáo đánh bạc vào tối ngày 16/01/2024 rạng sáng ngày 17/01/2024. Ngày hôm đó Hoàng Văn H3 tiếp khách say rượu nên đã đi ngủ, còn Hà Thị H4 sau khi ăn cơm xong thì lấy xe máy đưa mẹ đẻ đi về nhà tại xã M, huyện B, tỉnh Lạng Sơn nên không biết việc các đối tượng đánh bạc tại nhà; không được cho các đối tượng mượn các đồ vật, dụng cụ để sử dụng đánh bạc, không được hưởng lợi gì do đó không có căn cứ xử lý Hoàng Văn H3 và Hà Thị H4.

Tại Cáo trạng số: 19/CT-VKS-BG ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố các bị cáo Lý Văn D, Hoàng Văn C, Hoàng Văn G, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2, Lăng Văn Ý về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo trên phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt các bị cáo Lý Văn D, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn G từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Xử phạt các bị cáo Lý Văn T3, Lăng Văn C3, Hoàng Văn C4 và Hoàng Văn C từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo luật định, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao các bị cáo trên cho Ủy ban nhân dân xã N4 cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn N2, Lăng Văn Ý và Hoàng Văn T4 từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo. Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N4 cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật dụng, dụng cụ dùng đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 01 chiếu nhựa, 01 chiếc kéo do chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Văn H3 và chị Hà Thị H4 không có yêu cầu trả lại; tịch thu số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc sung quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện có trong hồ sơ là hợp pháp.

[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên toà các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và với các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Trong khoảng thời gian từ hơn 21 giờ 00 phút ngày 16/01/2024 đến 00 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại nhà ở của Hoàng Văn H3, sinh năm 1978 trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, các đối tượng: Lý Văn D, Hoàng Văn G, Hoàng Văn C, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ý đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền Ngân hàng N3. Tổng số tiền khi các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó có căn cứ xác định các bị cáo Lý Văn D, Hoàng Văn C, Hoàng Văn G, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ý phạm tội "Đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Gia truy tố các bị cáo hoàn toàn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm. Khi thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo đều là người đã thành niên, hoàn toàn nhận biết được hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền là vi phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất an ninh trật tự tại địa phương nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra theo tội danh, hình phạt đã quy định tại Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; bị cáo Lý Văn D có bố đẻ là ông Lý Văn L được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang, bị cáo Lộc Văn T5 có ông nội là ông Lộc Văn S1 được tặng thưởng Huân chương chiến thắng hạng Ba, bị cáo Lăng Văn V3 có bố đẻ là ông Lăng Văn Đ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, bị cáo Hoàng Văn T4 có bố là ông Hoàng Đình H5 được Chủ tịch nước Có tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5] Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa bị kết án, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật nên được coi là có nhân thân tốt.

[6] Về tiền án, tiền sự: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[7] Xét thấy, hành vi của các bị cáo thuộc trường hợp đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn. Các bị cáo chỉ nảy sinh ý định đánh bạc khi gặp nhau, bộc phát không có sự bàn bạc trước. Bị cáo Hoàng Văn N1 là người cắt quân vị, lấy bát, đĩa để đánh bạc rồi cất trên gác, Hoàng Văn G là người mang các dụng cụ sử dụng để đánh bạc cất ở trên gác xuống để đánh bạc, Lý Văn D là người cầm cái cho các đối tượng tham gia đánh bạc đặt cược. Tuy vậy, các bị cáo trên không được hưởng lợi gì từ việc đó. Bị cáo Lý Văn T3 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất là 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng). Bị cáo Lộc Văn T5 là Đảng viên Đ1, đáng ra phải là người nêu gương trước quần chúng nhân dân nhưng lại suy thoái về đạo đức, lối sống, gây dư luận xấu trong nhân dân. Các bị cáo là Hoàng Văn C, Lăng Văn C3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ý là đồng phạm với vai trò thứ yếu, chỉ tham gia đánh bạc đơn thuần với số tiền đánh bạc từ 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng) đến 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng). Hội đồng xét xử thấy ngoài lần phạm tội này, các bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Căn cứ theo Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết 01/2023/NQ-HĐTP ngày 15/4/2023 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, thấy không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, chưa cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và cải tạo không giam giữ cũng đủ sức răn đe các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội đánh bạc đều có mục đích, động cơ vụ lợi, lẽ ra phải buộc các bị cáo nộp một khoản tiền sung quỹ Nhà nước theo khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, các bị cáo đều sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đều thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, không có công việc ổn định, không có tài sản riêng để bảo đảm việc thi hành án phạt tiền, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là có căn cứ.

[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy các vật dụng, dụng cụ dùng đánh bạc; tịch thu tiêu hủy 01 chiếu nhựa, 01 chiếc kéo do chủ sở hữu hợp pháp là anh Hoàng Văn H3 và chị Hà Thị H4 không có yêu cầu trả lại; tịch thu số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) thu trên chiếu bạc sung quỹ Nhà nước.

[10] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm, sung ngân sách Nhà nước.

[11] Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và đều nhận tội như Cáo trạng đã truy tố, lời nói sau cùng các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét cho được hưởng mức án nhẹ nhất.

[12] Về đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử và quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[13] Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lý Văn D, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn G, Lý Văn T3, Lăng Văn C3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn C;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1 Điều 17; Điều 36; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn N2; Lăng Văn Ý và Hoàng Văn T4;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 262; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án;

1. Tuyên bố các bị cáo: Lý Văn D, Hoàng Văn C, Hoàng Văn G, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ý phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lý Văn D 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N1 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn G 01 (một) năm tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Lý Văn T3 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Lăng Văn C3 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C4 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn C 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Lý Văn D, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn G, Lý Văn T3, Lăng Văn C3 và Hoàng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng Văn C4 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được cho hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Xử phạt bị cáo Lộc Văn T5 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Xử phạt bị cáo Lăng Văn V3 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn N2 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Xử phạt bị cáo Lăng Văn Ý 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T4 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện B nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Giao các bị cáo Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn N2, Lăng Văn Ý và Hoàng Văn T4 cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng) (hiện đang tạm gửi trong tài khoản tạm gửi của Công an huyện B, tỉnh Lạng Sơn tại Kho bạc Nhà nước huyện B, tỉnh Lạng Sơn) để sung ngân sách Nhà nước.

Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) bát sứ màu trắng, hoạ tiết màu xanh; 01 (một) đĩa sứ màu trắng, hoạ tiết màu vàng; 04 (bốn) quân vị làm bằng vỏ bìa thuốc lá Thăng Long, một mặt màu vàng một mặt màu trắng; 01 (một) chiếu nhựa; 01 (một) chiếc kéo, cán màu đen dài 21 cm.

(Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Gia theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/6/2024).

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Lý Văn D, Hoàng Văn C, Hoàng Văn G, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ý, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Bình Gia;
  • - Công an huyện Bình Gia;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Gia;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu HS, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Hoàng Văn Khi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN về tội đánh bạc

  • Số bản án: 21/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIA, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ hơn 21 giờ 00 phút ngày 16/01/2024 đến 00 giờ 30 phút ngày 17/01/2024, tại nhà ở của Hoàng Văn H3, sinh năm 1978 trú tại thôn P, xã Q, huyện B, tỉnh Lạng Sơn, các đối tượng: Lý Văn D, Hoàng Văn G, Hoàng Văn C, Lăng Văn C3, Lý Văn T3, Hoàng Văn T4, Lộc Văn T5, Lăng Văn V3, Hoàng Văn C4, Hoàng Văn N1, Hoàng Văn N2 và Lăng Văn Ỷ đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền Ngân hàng N3. Tổng số tiền khi các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger