Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HSST

Ngày: 17/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Hồng Thái
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nông Khắc Huy
  • 2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại nhà Văn hóa xóm V, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Đ tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2023/QĐXXST - HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với:

1. Bị cáo: Hoàng Văn O, tên gọi khác:Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày: 07/7/1971; Nơi đăng ký thường trú: Xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Con ông: Hoàng Viết S (đã chết); Con bà: Hoàng Thị H (đã chết); Có vợ là Nguyễn Thị L- Sinh năm 1977; Con: 02 con (con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2003); Gia đình có 10 anh, chị em, bị can là con thứ sáu trong gia đình;

- Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

( Có mặt tại phiên tòa)

2. Người chứng kiến: Anh Nguyễn Quý H1, sinh năm 1983;

Nơi cư trú: xóm C, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã M, huyện Đ tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xóm T, xã M, huyện Đ, thì phát hiện Hoàng Văn O có biểu hiện liên quan đến ma tuý. Qua kiểm tra O tự giác lấy từ trong túi áo khoác ngoài bên phải của mình đang mặc ra 01(một) gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (O khai là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của O tại xóm M, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của O là 0,147 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định (ký hiệu A1).

Tại bản kết luận giám định số 151/KL – KTHS ngày 06/01/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng là: 0,147 gam.

Quá trình điều tra đã làm rõ: Khoảng 10 giờ ngày 29/12/2023, O một mình đi bộ từ nhà đến khu vực chợ T1 thuộc xóm T, xã M, huyện Đ để tìm mua Heroine cho bản thân sử dụng. Đến nơi, O gặp 01 người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, địa chỉ và hỏi mua của người này được 01 gói Heroine, với giá 100.000đ. Mua được Heroine, O cất dấu vào trong túi áo khoác bên phải mình đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi đến khu vực thuộc xóm T, xã M, huyện Đ thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong ký hiệu Al và LK. Hiện đang được bảo quản theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSĐH, ngày 25 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hoàng Văn O về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử phạt bị cáo Hoàng Văn O từ 24 đến 30 tháng tù.

Về Hình phạt bổ sung: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng và không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong ký hiệu Al và LK

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ đồng án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách nhà nước. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo Hoàng Văn O không yêu cầu được nhờ người bào chữa cho bị cáo. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2].Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn O thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà là khách quan phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng đã thu được, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Hồi 10 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, tại khu vực xóm T, xã M, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Hoàng Văn O đang có hành vi tàng trữ 0,147 gam Heroine để sử dụng cho bản thân, thì bị tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng có liên quan.

Bản cáo trạng số 22/CT-VKSÐ, ngày 25 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố để xét xử đối với bị cáo Hoàng Văn O về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)

c)Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cuả bị cáo Hội đồng xét xử thấy khi lượng hình cần lên một mức án nghiêm khắc, áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân, không có mục đích bán để kiếm lời, mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có công việc ổn định, không có thu nhập gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về điều luật áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt đối với bị cáo đề xuất còn cao.

[5]. Vật chứng của vụ án:

Đối với 02 (hai) phong bì được niêm phong ký hiệu A1, LK là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6]. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước

[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[8]. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy là Heroine bị thu giữ bị cáo khai bị cáo mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên, lai lịch ở khu vực chợ T1 thuộc xóm T, xã M, huyện Đ với số tiền 100.000 đồng, do O không xác định được tên, lai lịch, địa chỉ của người đàn ông trên nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là đúng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249 ; Điều 38; Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Các Điều 106, 136, 329, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
  • - Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015
  • - Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn O phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn O 18( Mười tám) tháng tù .

Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.

- Quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo Hoàng Văn O 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy:

  • - 01( Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu A1.
  • - 01( Một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu LK ( bên trong có 01 vỏ phong bì cùng 01 mảnh giấy bạc màu vàng)

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/4/2024. giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).

3. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn O phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp vào Ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn O có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên
  • - VKSND huyện Đ;
  • - Công an huyện Đ;
  • - Chi cục THADS huyện Đ;
  • - UBND xã M, huyện Đ;
  • - Bị cáo; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ, bộ phận Hình sự .

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Mai Thị Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 10 giờ 50 phút ngày 29/12/2023, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an huyện Đ phối hợp cùng Công an xã M, huyện Đ tiến hành tuần tra, kiểm soát trên địa bàn xóm T, xã M, huyện Đ, thì phát hiện Hoàng Văn O có biểu hiện liên quan đến ma tuý. Qua kiểm tra O tự giác lấy từ trong túi áo khoác ngoài bên phải của mình đang mặc ra 01(một) gói nhỏ được gói bằng mảnh giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác (O khai là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger