TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 06-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Trần Nguyên Vỹ.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1. Ông Trần Nhượt.
- 2. Bà Trần Thị Ba.
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Yến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Trần Hoàng Vũ, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Công T, sinh ngày 01/02/1983; nơi sinh: huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: nông; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm M (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1944; bị cáo có vợ là Trần Vũ Diễm P, sinh năm 1983; bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 05/9/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 26/2014/HS-ST, đã chấp hành xong hình phạt và xoá án tích. Bị bắt tạm giữ ngày 17/12/2023, chuyển tạm giam ngày 26/12/2023 tại nhà tạm giữ Công an huyện Q. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị Hải N, sinh năm 1991. Địa chỉ: thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Chị Hồ Thị N1, sinh năm 1987. Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990. Địa chỉ: tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Chị Trần Vũ Diễm P, sinh năm 1983. Địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người làm chứng: ông Phan Ngọc P1, sinh năm 1975. Địa chỉ: thôn P, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
+ Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1971. Địa chỉ: tổ dân phố L, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
+ Ông Trần Phước A, sinh năm 1966. Địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Sáng ngày 14/12/2023, bị cáo điều khiển xe máy Satria biển số 92G1-363.14 (bị cáo đứng tên chủ sở hữu) từ nhà ra khu vực Chợ C tại thành phố Đà Nẵng để mua ma tuý về sử dụng và bán. Bị cáo thấy một người xe ôm gần khu vực Chợ C thì lại hỏi người này có bán ma túy loại heroine không, bán cho bị cáo 1.000.000 đồng. Người này nói bị cáo đi vào hẻm nhỏ gần đó đợi. Khoảng 10 phút sau, người này quay lại. Bị cáo đưa cho người này số tiền 1.000.000 đồng, người này đưa cho bị cáo một gói ma túy loại heroine được gói trong túi nylon. Bị cáo cất ma túy trong người rồi đi về nhà. Bị cáo mang ma túy ra khu vực rừng phía sau nhà sử dụng một phần, phần còn lại bị cáo bỏ trong đoạn ống hút hàn kín 2 đầu rồi cất trong túi quần. Khoảng 11 giờ ngày 14/12/2023, anh P1 đến nhà bị cáo chơi. Anh P1 ngồi tại bàn đá ở sân nhà bị cáo. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, chị N đến nhà bị cáo để mua ma tuý về sử dụng. Chị N nói bị cáo bán 300.000 đồng ma túy loại heroine, bị cáo đồng ý. Chị N đưa cho bị cáo 300.000 đồng, bị cáo lấy ma túy (trong đoạn ống hút hàn kín hai đầu) trong túi quần ra đưa cho chị N. Chị N mang số ma túy này về nhà sử dụng. Một lát sau, anh P1 cũng ra về. Đến sáng ngày 16/12/2023, bị cáo điều khiển xe máy Satria từ nhà ra khu vực Chợ C để hỏi mua ma túy, bị cáo tìm không thấy người xe ôm ngày 14/12/2023 mà gặp người xe ôm khác. Bị cáo hỏi người này có bán ma túy không thì người này nói ngày mai mới có. Bị cáo lại một cửa hàng bán đồ điện tử mua 01 cân tiểu ly với mục đính về nhà cân chia ma tuý để bán, sau đó bị cáo đi về nhà và cất cân tiểu ly trong phòng ngủ. Đến khoảng hơn 10 giờ sáng ngày 17/12/2023, bị cáo tiếp tục điều khiển xe máy Satria ra thành phố Đà Nẵng để mua ma túy. Bị cáo đi tìm quanh Chợ Cồn thì thấy người xe ôm hôm qua. Bị cáo nói người này bán cho bị cáo 2.000.000 đồng ma túy loại heroine, người này dẫn bị cáo đi lòng vòng quanh chợ rồi nói bị cáo đứng chờ. Khoảng 10 phút sau người này quay lại, bị cáo đưa cho người này 2.000.000 đồng, người này đưa cho bị cáo một gói thuốc hiệu Prince màu xanh bên trong có chứa một gói ma túy loại heroine. Bị cáo cất gói thuốc Prince bên trong có chứa ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe ra về. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, khi về đến thị trấn Đ, huyện Q, bị cáo vào quán cà phê Dũng Q1 để ngồi uống nước. Một lát sau, bị cáo ra lấy xe máy để ra về thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ.
Tại bản Kết luận giám định số 2611/KL-KTHS ngày 22/12/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: chất rắn màu trắng dạng cục nêu ở mục II.1 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng mẫu là 1,89 gam.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Prince màu xanh bên trong có 08 điếu thuốc lá hiệu Prince và 01 gói nylon không màu kích thước 12,3 cm x 6,5 cm, bên trong gói nylon có chứa chất rắn dạng cục màu trắng (Phân viện KHHS tại TP Đà Nẵng hoàn trả sau giám định 01 bì niêm phong số 2611/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật ma túy và 01 bì niêm phong số 2616/KL-KTHS bên trong chứa mẫu vật là 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Prince màu xanh, 01 gói nylon không màu kích thước 12,3 cm x 6,5 cm); 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh dương có số IMEI1 8614280059199837, số IMEI2 8614280059199829, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số 0353228541; 01 ví đen bên trong có 01 giấy đăng ký xe mô tô số 92000572 tên Phạm Công T đăng ký biển số xe 92G1-363.14, 01 thẻ sim Viettel số sêri 8984048000918919080; 01 xe mô tô hiệu SUZUKI SATRIA có gắn biển số 92G1-363.14; 01 căn cước công dân tên Phạm Công T; số tiền 300.000 đồng; 08 đoạn ống hút bằng nhựa dài 21 cm, trong đó có 06 đoạn có màu trắng sọc cam, 02 đoạn có màu trắng sọc xanh; 02 đoạn ống hút bằng nhựa dài 14,5 cm, trong đó có 01 đoạn màu trắng sọc cam, 01 đoạn màu trắng sọc xanh; 01 cân điện tử màu đen có chữ POCKET SCALE; 01 cái kéo bằng kim loại dài 22 cm, lưỡi bằng kim loại, cán kéo được bọc bằng nhựa màu đỏ; 05 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh; 01 ống nhựa mau trắng hình trụ tròn chiều cao 6 cm, đường kính đáy 2,8 cm, bên trên có nắp nhựa màu trắng.
Tại Cáo trạng số 18/CT-VKSQS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”; căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 17/12/2023.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 02 bì niêm phong số 2611/KL-KTHS và số 2616/KL-KTHS của Phân viện KHHS tại TP Đà Nẵng bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định.
- + 08 điếu thuốc lá hiệu Prince; 08 đoạn ống hút bằng nhựa dài 21 cm, trong đó có 06 đoạn có màu trắng sọc cam, 02 đoạn có màu trắng sọc xanh; 02 đoạn ống hút bằng nhựa dài 14,5 cm, trong đó có 01 đoạn màu trắng sọc cam, 01 đoạn màu trắng sọc xanh; 01 cái kéo bằng kim loại dài 22 cm, lưỡi bằng kim loại, cán kéo được bọc bằng nhựa màu đỏ; 05 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh; 01 ống nhựa màu trắng hình trụ tròn chiều cao 6 cm, đường kính đáy 2,8 cm, bên trên có nắp nhựa màu trắng; 01 ví màu đen.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 cân điện tử màu đen có chữ POCKET SCALE.
- + 01 xe mô tô hiệu SUZUKI SATRIA gắn biển số 92G1-363.14, số máy CGA1605777, số khung MH8DL11ANJ105851 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 92000572 đăng ký biển số xe 92G1-363.14 tên Phạm Công T. Do chị P không biết bị cáo sử dụng chiếc xe trên (là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng) để mua ma túy nên chị P có quyền khởi kiện vụ án dân sự để giải quyết phần bồi thường.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh dương có số IMEI1 8614280059199837, số IMEI2 8014280059199829, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số 0353228541; 01 thẻ sim Viettel số sêri 8984048000918919080; 01 căn cước công dân tên Phạm Công T.
- Truy thu của bị cáo số tiền 300.000 đồng.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và người chứng kiến vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, ngày 14/12/2023 tại nhà bị cáo ở thôn T, xã Q, huyện Q, bị cáo đã bán trái phép chất ma túy là heroin cho chị Nguyễn Thị Hải N với số tiền 300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Do đó, cáo trạng số 18/CT-VKSQS ngày 11 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội: ma túy là chất gây nghiện có hại cho sức khỏe con người, sử dụng ma tuý là một trong những tệ nạn nguy hiểm nhất trong xã hội. Khi sử dụng chất ma túy sẽ làm cho con người có nhận thức lệch lạc, mơ hồ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể chất và tinh thần, là tác nhân gây ra các tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực để nhận thức được điều đó nhưng do hám lợi từ việc bán trái phép chất ma túy và có ma túy để sử dụng nên bị cáo bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: năm 2014, bị cáo đã bị xử phạt 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn ăn hối cải về hành vi phạm tội của mình; gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo.
[6]. Về hình phạt bổ sung:
Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Đối với hành vi của những người có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy của 02 người đàn ông tại khu vực Chợ C thuộc thành phố Đà Nẵng: bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở xử lý.
Về hành vi mua ma tuý để sử dụng của chị N, cơ quan điều tra Công an huyện Q đã đề nghị Công an huyện Q xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với việc chị N khai nhận ngoài lần mua ma tuý vào ngày 14/12/2023, chị N còn mua ma tuý của bị cáo 02 lần trước đó nhưng không nhớ rõ thời gian; bị cáo không thừa nhận bán ma túy cho chị N trong 02 lần này; ngoài lời khai của chị N thì không có chứng cứ nào khác. Do đó, không đủ căn cứ để xử lý bị cáo về các lần bán ma túy trên.
[8]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 02 bì niêm phong số 2611/KL-KTHS và số 2616/KL-KTHS của Phân viện KHHS tại TP Đà Nẵng bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định.
- + 08 điếu thuốc lá hiệu Prince; 08 đoạn ống hút bằng nhựa dài 21 cm, trong đó có 06 đoạn có màu trắng sọc cam, 02 đoạn có màu trắng sọc xanh; 02 đoạn ống hút bằng nhựa dài 14,5 cm, trong đó có 01 đoạn màu trắng sọc cam, 01 đoạn màu trắng sọc xanh; 01 cái kéo bằng kim loại dài 22 cm, lưỡi bằng kim loại, cán kéo được bọc bằng nhựa màu đỏ; 05 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh; 01 ống nhựa màu trắng hình trụ tròn chiều cao 6 cm, đường kính đáy 2,8 cm, bên trên có nắp nhựa màu trắng; 01 ví màu đen do bị cáo và chị P không nhận lại và không còn giá trị sử dụng.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 cân điện tử màu đen có chữ POCKET SCALE là vật chứng có liên quan đến hành vi phạm tội và còn giá trị sử dụng.
- + 01 xe mô tô hiệu SUZUKI SATRIA gắn biển số 92G1-363.14, có số máy CGA1605777, số khung MH8DL11ANJ105851 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 92000572 đăng ký biển số xe 92G1-363.14 tên Phạm Công T. Đây là phương tiện bị cáo sử dụng để mua bán trái phép chất ma túy. Do chị P không biết bị cáo sử dụng chiếc xe trên (là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng) để mua ma túy nên chị P có quyền khởi kiện vụ án dân sự để giải quyết phần bồi thường.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh dương có số IMEI1 8614280059199837, số IMEI2 8014280059199829, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số 0353228541; 01 thẻ sim Viettel số sêri 8984048000918919080; 01 căn cước công dân tên Phạm Công T. Do không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Truy thu số tiền 300.000 đồng là tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma tuý cho chị N.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000 đồng thuộc sở hữu của bị cáo là vật chứng không liên quan đến việc phạm tội để đảm bảo thi hành án.
[9]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 136, 292, 292, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Công T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Phạm Công T 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (17/12/2023).
2. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 02 bì niêm phong số 2611/KL-KTHS và số 2616/KL-KTHS của Phân viện KHHS tại TP Đà Nẵng bên trong có mẫu vật hoàn trả sau giám định.
- + 08 điếu thuốc lá hiệu Prince; 08 đoạn ống hút bằng nhựa dài 21 cm, trong đó có 06 đoạn có màu trắng sọc cam, 02 đoạn có màu trắng sọc xanh; 02 đoạn ống hút bằng nhựa dài 14,5 cm, trong đó có 01 đoạn màu trắng sọc cam, 01 đoạn màu trắng sọc xanh; 01 cái kéo bằng kim loại dài 22 cm, lưỡi bằng kim loại, cán kéo được bọc bằng nhựa màu đỏ; 05 lưỡi dao lam; 01 bật lửa màu xanh; 01 ống nhựa màu trắng hình trụ tròn chiều cao 6 cm, đường kính đáy 2,8 cm, bên trên có nắp nhựa màu trắng; 01 ví màu đen.
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước:
- + 01 cân điện tử màu đen có chữ POCKET SCALE.
- + 01 xe mô tô hiệu SUZUKI SATRIA gắn biển số 92G1-363.14, có số máy CGA1605777, số khung MH8DL11ANJ105851 và 01 giấy đăng ký xe mô tô số 92000572 đăng ký biển số xe 92G1-363.14 tên Phạm Công T.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu Vivo Y21 màu xanh dương có số IMEI1 8614280059199837, số IMEI2 8014280059199829, bên trong điện thoại có gắn thẻ sim số 0353228541; 01 thẻ sim Viettel số sêri 8984048000918919080; 01 căn cước công dân tên Phạm Công T.
- Truy thu của bị cáo số tiền 300.000 đồng.
- Tiếp tục tạm giữ số tiền 300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2024. Riêng số tiền 300.000 đồng được tạm gửi tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Sơn tại Kho bạc nhà nước huyện Q theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 27/6/2024).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (06-8-2024). Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Trần Nguyên Vỹ |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bi cáo T bán ma túy
