|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 30-8-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Phương Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân:- Ông Nguyễn Minh Duyết.
- Bà Nguyễn Thị Loan.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên - Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Quảng Trị
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Bát - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2024/TLST - HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn L, sinh ngày 24/02/1987, tại: Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H, sinh năm: 1965 (đã chết) và con bà Trương Thị H1, sinh năm: 1968, trú tại: xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vợ Trần Thị Mỹ H2, sinh năm: 1991; Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/3/2024 cho đến nay.
Những người tham gia tố tụng khác:
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Chị Trần Thị Mỹ H2, sinh năm: 1991; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng 18/3/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Phan Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49P1-5439 (của chị Trần Thị Mỹ H2 - Sinh năm 1991, trú tại: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, là vợ của L) đi từ nhà đến khu vực cầu T thuộc phường A, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, tìm gặp người đàn ông tên “Rom” mua 55 viên nén (gồm 54 viên ma túy màu hồng và 01 viên màu xanh) để trong 05 túi nilon, với giá 2.000.000đồng. Mua xong, L cầm ở trên tay trái 04 túi nilon, cụ thể: Túi thứ nhất có 11 viên ma túy màu hồng; túi thứ hai có 11 viên ma túy màu hồng; túi thứ ba có 11 viên ma tuý màu hồng và 01 viên màu xanh; túi thứ tư có 03 viên ma tuý màu hồng và 01 túi nilon bên trong có 07 viên ma tuý màu hồng. Còn 01 túi nilon có 11 viên ma tuý màu hồng, L để trong túi quần Jean phía trước bên phải, rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô theo đường L rẽ vào đường P thuộc Khu phố C, Phường A, thị xã Q, nhằm tìm địa điểm thuê nhà nghỉ để sử dụng. Đến 10 giờ 45 phút cùng ngày, khi L điều khiển xe mô tô đến ngã tư đường L giao với đường P thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã Q kiểm tra, phát hiện tay trái của L đang nắm 04 túi nilon bên trong có tổng cộng 43 viên ma túy màu hồng và 01 viên màu xanh. Sau đó, L tự nguyện lấy trong túi quần Jean phía trước bên phải ra 01 túi nilon, bên trong có 11 viên ma túy màu hồng giao nộp nên Công an thị xã Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L.
Tại bản Kết luận giám định số 414/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 54 viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; có tổng khối lượng là 5,1106g; 01 viên nén màu xanh gửi đến giám định có khối lượng 0,0971g, không tìm thấy chất ma túy.
Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ: 54 viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine; 01 viên nén màu xanh; 06 túi nilon; 01 xe mô tô biển kiểm soát 49P1-5439; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A70 màu đen; có số máy: SM-A705F/DS; Số sê ri: R58MB5ATFJR; IMEI khe 1: 355915104681333; IMEI khe 2: 355916104681331; 01 sim điện thoại mạng Viettel có số ký hiệu trên thẻ sim: 8984048000051345164; 01 sim điện thoại mạng Mobifone có số ký hiệu trên thẻ sim: 8401221233450592.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKS-TXQT ngày 12/8/2024, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Phan Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; khoản 1 Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn L từ 06 (sáu) năm đến 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 18/3/2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị xử tịch thu, tiêu huỷ: 54 viên nén màu hồng là ma túy, loại Methamphetamine; 01 viên nén màu xanh; 06 túi nilon.
Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị xử buộc bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Phan Văn L không tranh luận gì, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố: Xét lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo Phan Văn L là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 10 giờ 45 phút cùng ngày, tại ngã tư đường L giao với đường P thuộc Khu phố C, Phường A, thị xã Quảng Trị P đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 54 viên nén màu hồng và 01 viên nén màu xanh nhằm mục đích để sử dụng thì bị Tổ tuần tra Công an thị xã Q kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L. Tại bản Kết luận giám định số 414/KL-KTHS ngày 26/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: 54 viên nén màu hồng gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ; có tổng khối lượng là 5,1106g; 01 viên nén màu xanh gửi đến giám định có khối lượng 0,0971g, không tìm thấy chất ma túy. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Phan Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả của hành vi: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị gồm:
01 (Một) túi niêm phong có mã số PS2A 066848 được dán kín các mép và có chữ ký xác nhận của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q;
01 (Một) túi niêm phong ký hiệu mã số NS3A 071394, được dán kín mép và có chữ ký xác nhận của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
Xét thấy đây là vật cấm tàng trữ, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy (Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự).
[6] Quá trình điều tra xét thấy một số đồ vật đã thu giữ không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Trần Thị Mỹ H2 gồm 01 xe mô tô biển kiểm soát 49P1-5439; 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy A70 màu đen; có số máy: SM-A705F/DS; Số sê ri: R58MB5ATFJR; IMEI khe 1: 355915104681333; IMEI khe 2: 355916104681331; 01 sim điện thoại mạng Viettel có số ký hiệu trên thẻ sim: 8984048000051345164; 01 sim điện thoại mạng Mobifone có số ký hiệu trên thẻ sim: 8401221233450592 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về tài sản đã được trả lại. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Đối với người tên R đã bán cho Phan Văn L 54 viên ma túy. Hiện, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Q đang tiếp tục xác minh, làm rõ, khi có đủ cơ sở sẽ xử lý sau.
[8] Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo chấp hành án. (Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự).
[11] Về án phí: Bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Phan Văn L, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Xử phạt bị cáo Phan Văn L 06 (S) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/3/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 (Một) túi niêm phong có mã số PS2A 066848 được dán kín các mép và có chữ ký xác nhận của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 (Một) túi niêm phong ký hiệu mã số NS3A 071394, được dán kín mép và có chữ ký xác nhận của những người tham gia niêm phong, đóng dấu của Phòng K Công an tỉnh Q.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/8/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị).
- Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Quảng Trị;
- - VKSND tỉnh Quảng Trị;
- - VKSND thị xã Quảng Trị;
- - Công an thị xã Quảng Trị;
- - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA;
- - Bị cáo;
- - Thi hành án hình sự;
- - Chi cục THADS thị xã Quảng Trị;
- - Lưu: Hồ sơ, văn thư.
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Văn L phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
