|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày 24-5-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Khắc Quyết - Cán bộ hưu trí;
Bà Lưu Thị Hồng Thơm - Hiệu trưởng trường tiểu học Vạn Sơn;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Lù Xuân Đ; sinh ngày 14 tháng 02 năm 2004 tại tỉnh H; Nơi ĐKTT: Thôn T, xã Đ, huyện B, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: Phố V, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lù Seo B và bà Hoàng Thị M; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 15-11-2023; có mặt.
- Sằm Lý H; sinh ngày 19 tháng 9 năm 2005 tại tỉnh H (tại thời điểm phạm tội 17 tuổi 10 tháng 22 ngày); Nơi cư trú: Thôn V, xã V, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sằm Văn N và bà Lý Thị Đ; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15-11-2023; có mặt.
Bị hại: Anh Chu Quang H, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện B, tỉnh Hà Giang; có mặt.
Người làm chứng:
Chị Vũ Ngọc Á; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do Sằm Lý H có mâu thuẫn từ trước với anh Chu Quang H trong quan hệ tình cảm với chị Vũ Ngọc Á là người yêu của H. Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 10 tháng 8 năm 2023, H rủ bạn là Lù Xuân Đ đi xe mô tô từ thành phố Hả đến nơi ở của anh H để đánh anh H, Đ đồng ý. Trước khi đi, H mang theo 07 vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger để trong ba lô của H mục đích nếu gặp anh H thì đánh hoặc nếu bị anh H đánh thì đánh trả. Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 11 tháng 8 năm 2023, H và Đ đến phòng trọ số 13 của chị Á và ngủ lại. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày; H, Đ, chị Á và một số người bạn tổ chức ăn uống, trong quá trình ăn uống có sử dụng bia. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi ăn uống xong mọi người ra về, H nháy mắt ra tín hiệu cho Đ ý muốn cùng Đ đi lên tầng 2 tìm anh H để đánh. Đ đeo ba lô bên trong có 07 vỏ chai bia đi lên tầng hai, H đi theo sau Đ nhưng bị chị A ngăn cản, không cho đi. Khi lên đến tầng hai Đ nhìn thấy một người thanh niên (sau này Đ mới biết đó là anh H) đang ngồi sử dụng điện thoại tại cửa phòng trọ. Đ hỏi phòng của anh Đức thì được H chỉ đi lên tầng 3. Đ đi lên tầng 3 thấy không có phòng trọ chỉ là sân thượng nên quay xuống tầng 2 tìm H nhưng không thấy. Đ chạy xuống tầng 1 thì gặp một người đàn ông trung niên, Đ hỏi phòng trọ của anh Đức được người đàn ông chỉ đi lên tầng 2 rẽ trái. Lúc này Đ đã chắc chắn người thanh niên chỉ phòng cho Đ lúc trước là H. Đ lấy hai vỏ chai bia ở trong ba lô ra, mỗi tay cầm một vỏ chai bia, Đ đập hai vỏ chai bia vào nhau, một vỏ chai bia Đ cầm ở tay phải bị vỡ, chỉ còn đầu vỏ. Đ để hai tay đang cầm hai vỏ chai bia đã vỡ ra phía sau lưng đi lên tầng 2 tìm anh H để đánh. Khi nhìn thấy anh H ở phòng số 8 đang nằm trên giường, chơi điện thoại, Đ hỏi “anh tên gì” thì H đi ra khỏi phòng đứng cách Đ khoảng 01m, anh H trả lời “mình tên là H” lúc đó Đ biết chính xác đây là người Đ và H đang tìm đánh. Đ nói với anh H “anh chỉ em thế thì lú hết đầu”, Đ chửi anh H sau đó cầm vỏ chai bia ở tay phải giơ lên cao đập một nhát vào trán của anh H gây thương tích. Anh H chạy vào phòng của mình lấy một con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 40 cm, rộng 6,7 cm cầm ở tay phải đuổi theo Đ xuống tầng 1. Đ bỏ chạy đến khu vực trước cửa phòng trọ số 12, thấy đánh nhau H chạy ra khỏi phòng của chị A đến cạnh Đ còn anh H chạy đến khu vực cửa phòng số 3 thì dừng lại. Hai bên cách nhau khoảng 02 mét, tay trái Đ lúc này vẫn đang cầm một vỏ chai bia chưa bị vỡ, Đ chuyển vỏ chai bia đang cầm ở tay trái sang tay phải rồi ném về phía người anh H. Đ tiếp tục mở balô đang đeo trên vai rồi lấy một vỏ chai bia cầm ở tay phải, H cũng lấy một vỏ chai bia trong balô cầm ở tay phải ném trúng mặt của anh H. Lúc này Đ và H thấy máu chảy ra trên mặt anh H, anh H cầm dao chạy về phía Đ, H thì Đ, H bỏ chạy về hướng trung tâm phường M. Sau đó, anh H được đưa đi Bệnh viện điều trị thương tích.
2
Quá trình điều tra, Cơ quan Công an đã thu giữ: 01 vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger; nhiều mảnh vụn thuỷ tinh màu nâu; 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 40 cm, rộng 6,7 cm.
Theo Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 715/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 16-10-2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của anh Chu Quang H như sau: “Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28-8-2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Chu Quang H - sinh năm 1997 tại thời điểm giám định là: 16% (Mười sáu phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương rách da vùng trán trái gây nên là: 06% (Sáu phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết thương rách da vùng mi trên mắt phải gây nên là: 03% (Ba phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo vết xây xước da vùng trán đỉnh gây nên là: 01% (Một phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do sẹo 02 vết xây xước da vùng trán gây nên là: 03% (Ba phần trăm) và: 03% (Ba phần trăm); tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do chấn động não điều trị ổn định gây nên là: 01% (Một phần trăm). Các thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng có thể tương đối sắc tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề bặt da nơi tổn thương gây nên”.
Về dân sự: anh Chu Quang H yêu cầu bị cáo Lù Xuân Đ và bị cáo Sằm Lý H phải liên đới bồi thường 20.000.000đồng nhưng các bị cáo chưa bồi thường cho anh H.
Tại Cáo trạng số 19/CT-VKSĐS ngày 26-4-2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố Lù Xuân Đ và Sằm Lý H đồng phạm về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lù Xuân Đ từ 33 tháng đến 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 15-11-2023.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Sằm Lý H từ 24 tháng đến 27 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 584; 585; 586; 587; 590 Bộ luật Dân sự tuyên buộc bị cáo Lù Xuân Đ và Sằm Lý H phải liên
3
đới bồi thường cho bị hại số tiền 20.000.000đồng, chia kỷ phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh H 10.000.000đồng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger; nhiều mảnh vụn thuỷ tinh màu nâu; 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 40cm, rộng 6,7cm.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Lù Xuân Đ, Sằm Lý H mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (Năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị hại có ý kiến:
Bị hại không tranh luận về tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố. Bị hại yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường 20.000.000đồng là tiền viện phí, thuốc men, bồi dưỡng sức khoẻ, bồi thường tổn thất tinh thần cho bị hại. Bị hại không xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng, các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo Đ thay đổi lời khai cho rằng địa điểm gây thương tích cho anh H ban đầu không phải ở trên tầng 2 mà khi anh Đ đuổi đánh bị cáo chạy xuống tầng 1 mới dùng vỏ chai bia ném về phía anh Đ, trúng vào mặt anh Đ gây thương tích. Về trách nhiệm bồi thường cho bị hại, các bị cáo đồng ý liên đới bồi thường cho bị hại 20.000.000đồng, xin lỗi bị hại, mong bị hại tha thứ cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn tranh luận với bị cáo Đ: trong cả quá trình giải quyết vụ án đến trước khi phiên toà diễn ra bị cáo Đ đều thừa nhận gây thương tích cho anh H ban đầu là ở trên tầng 2, lời khai của bị cáo Đ phù hợp với lời khai của bị cáo H, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, cơ chế hình thành thương tích của anh Hợp nên không có căn cứ chấp nhận việc bị cáo Đ thay đổi lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
4
[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đồ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[3] Về tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố đối với các bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Lù Xuân Đ và bị cáo Sằm Lý H khai báo về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 11 tháng 8 năm 2023 tại tổ dân phố Hồng Phong, phường Minh Đức, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, do xuất phát từ việc ghen tuông, mâu thuẫn tình cảm giữa Sằm Lý H và anh Chu Quang H đối với chị Vũ Ngọc A (là bạn gái của bị cáo Sằm Lý H), nên Sằm Lý H và Lù Xuân Đ (là bạn của H) đã có hành vi dùng vỏ chai bia đánh anh H gây nên vết thương rách da vùng trán, rách da vùng mi trên mắt phải; xây xước da vùng trán, vùng trán đỉnh, chấn động não điều trị khiến anh H bị thương tích làm giảm 16% sức khỏe. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi gây tổn hại đến sức khỏe của người khác là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi của bị cáo Lù Xuân Đ và bị cáo Sằm Lý H phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự.
[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo Lù Xuân Đ và Sằm Lý H có hành vi dùng vỏ chai bia đánh gây thương tích cho bị hại là anh Chu Quang H, làm anh H giảm 16% sức khỏe. Theo hướng dẫn tại điểm c tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì vỏ chai bia là phương tiện nguy hiểm và được các bị cáo dụng để gây thương tích cho anh H nên thuộc trường hợp vi phạm tình tiết “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự và tình tiết định khung: “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự” quy
5
định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do vậy các bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự như kết luận của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến quyền được bảo hộ về sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bởi vậy, cần phải được xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.
[6] Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này bị cáo Đ và bị cáo H đồng phạm về tội “Cố ý gây thương tích”, trong đó bị cáo H có vai trò là người khởi xướng, chủ mưu, đề xuất, trực tiếp chuẩn bị hung khí nguy hiểm là 07 vỏ chai bia và rủ Đ đi đánh anh H, bản thân H cũng cùng Đ dùng vỏ chai bia ném vào người anh H. Bị cáo Đ có vai trò là người thực hành tích cực, cụ thể khi H rủ Đ đi đánh anh H, mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh H từ trước nhưng Đ vẫn đồng ý đi cùng H để đánh anh H. Khi tìm được anh H, Đ là người lấy vỏ chai bia đập vào trán anh H gây nên thương tích rách da vùng trán trái, rách da vùng mi trên mắt phải, xước da vùng trán đỉnh, xước da vùng trán, chấn động não, thương tích của anh H chủ yếu do Đ gây nên. Từ phân tích trên thấy vai trò của bị cáo Đ và bị cáo H ngang nhau trong vụ án.
[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tại phiên toà bị cáo Đ thay đổi lời khai về địa điểm gây thương tích cho anh H là ở tầng 1 chứ không phải trên tầng hai, bị cáo không cầm chai bia đập vào trán anh H mà khi xuống tầng 1 bị cáo mới lấy chai bia ném vào mặt anh H. Tuy nhiên thấy lời khai này của bị cáo không có căn cứ bởi Bản kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 715/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 16-10-2023 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận thương tích của anh Chu Quang H như sau: “......Các thương tích trên có đặc điểm do vật có góc cạnh cứng có thể tương đối sắc tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề bặt da nơi tổn thương gây nên”. Bị cáo Đ trình bày tại phiên toà khi xuống đến chiếu nghỉ tầng 1 mới lấy vỏ chai bia ném anh H ở khoảng cách khoảng 2,5m, lời khai tại cơ quan điều tra bị cáo Đ khai khi đứng đối diện cách anh H khoảng 1m, Đ lấy vỏ chai bia giơ lên cao đập một nhát vào trán của anh H. Thấy trong hai lời khai này thì lời khai tại cơ quan điều tra của bị cáo Đ phù hợp với cơ chế hình thành vết thương trong kết luận giám định cũng như phù hợp với lời khai của bị cáo H, bị hại, người làm chứng. Mặt khác việc bị cáo Đ thay đổi lời khai tại phiên toà không làm thay đổi bản chất của vụ án. Do vậy
6
không chấp nhận việc thay đổi lời khai của bị cáo Đ tại phiên toà. Mặc dù bị cáo Đ có thay đổi lời khai nhưng việc thay đổi lời khai này không ảnh hưởng đến việc định tội danh, các nội dung khác bị cáo Đ vẫn thành khẩn khai báo nên bị cáo Đ vẫn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giống bị cáo H nhưng áp dụng có mức độ.
[9] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự xã hội và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần thiết phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, tuy hai bị cáo có vai trò cơ bản ngang nhau trong vụ án, nhưng bị cáo Sằm Lý H tại thời điểm phạm tội mới 17 tuổi 10 tháng 22 ngày là người chưa thành niên nên hành động, suy nghĩ còn bột phát, thiếu chín chắn dẫn đến phạm tội. Bị cáo Lù Xuân Đ là người đã thành niên, đáng lẽ ra khi bị cáo H rủ đi đánh anh H, bị cáo phải là người can ngăn H nhưng bị cáo không những không can ngăn mà còn tích cực cùng H phạm tội. Từ khi phạm tội cho đến phiên toà, các bị cáo chưa bồi thường cho anh H. Nên cần cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian và xét xử các bị cáo trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung. Do vậy, áp dụng hình phạt đối với bị cáo Lù Xuân Đ, Sằm Lý H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở.
[10] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên toà bị hại và các bị cáo đã thoả thuận mức bồi thường là 20.000.000đồng. Xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây nên vết thương vùng trán, vùng mi mắt phải của anh H. Đây là các vết thương tại vùng mặt nên ảnh hưởng lớn đến thẩm mỹ của anh H, làm anh H bị tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16%. Do vậy, việc anh H yêu cầu các bị cáo liên đới bồi thường cho anh H số tiền 20.000.000đồng là hoàn toàn hợp lý. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh H, buộc các bị cáo phải liên đới bồi thường cho anh H số tiền 20.000.000đồng, như đã phân tích tại mục [6] do hai bị cáo có vai trò cơ bản ngang nhau trong vụ án nên mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh H 10.000.000đồng. Đối với bị cáo Sằm Lý H khi phạm tội 17 tuổi 10 tháng 22 ngày là người chưa thành niên theo Điều 586 Bộ luật Dân sự quy định: “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại phải bồi thường bằng tài sản của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình” tuy nhiên cho đến thời điểm xét xử bị cáo Sằm Lý H đã đủ 18 tuổi do vậy bị cáo Sằm Lý H phải tự có trách nhiệm bồi thường cho bị hại.
[11] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ:
- 01 vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger; nhiều mảnh vụn thuỷ tinh màu nâu; 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 40cm, rộng 6,7cm.
7
Xét thấy đây là công cụ, phương tiện phạm tội và là các vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu huỷ.
[12] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Lù Xuân Đ đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Lù Xuân Đ 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam là ngày 15-11-2023.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Sằm Lý H đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Sằm Lý H 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Sằm Lý H không quá thời hạn kể từ khi tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù.
- Về dân sự: Căn cứ các Điều 584; 585; 586; 587; 590 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Lù Xuân Đ, Sằm Lý H phải liên đới bồi thường cho anh Chu Quang H số tiền 20.000.000đồng, chia theo phần mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh H số tiền 10.000.000đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án cỏn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về xử lý vật chứng:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger; nhiều mảnh vụn thuỷ tinh màu nâu; 01 con dao bằng kim loại, cán bằng gỗ, dài 40cm, rộng 6,7cm.
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng với Công an quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng).
8
- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lù Xuân Đ và bị cáo Sằm Lý Hùng mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đ (Năm trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
Các bị cáo; bị hại đều có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
9
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lưu Thị Hồng Thơm-Nguyễn Khắc Quyết |
Nguyễn Thị Minh Phương |
10
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 21 ngày 24/05/2024 về tội Cố ý gây thương tích
