TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HS-ST
Ngày 24 – 4 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đua
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Thanh
Ông Nguyễn Kim Phong
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Nhật Q - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Anh T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2001, tại huyện P, tỉnh Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T1 và bà Lưu Ngọc H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không có; tiền sự: không có; nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện cho bị hại:
- Trần Văn T2, sinh năm 1964, nơi cư trú: Ấp T, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt tại phiên Tòa)
- Nguyễn Thị M, sinh năm 1985; nơi cư trú: Ấp T, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt tại phiên Tòa)
Người có quyền lượi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Văn T1, sinh năm 1978, nơi cư trú: Ấp D, thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang. (Có mặt tại phiên Tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 05 giờ 50 phút, ngày 03/11/2023 bị cáo Trần Anh T, sinh ngày 07/03/2001, nơi thường trú: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn Đỏ đen, số máy G3D4E1077360, số khung 1010LY306326, gắn biển kiểm soát 95H1-602.20 chạy trên tỉnh lộ 931B hướng từ xã T đến thị trấn M. Khi đến đoạn ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, thì va chạm vào bà Trương Thị M1 đang đi bộ bên lề phải so với hướng đi của bị cáo. Va chạm làm bà Trương Thị M1 té ngã xuống lộ và được đưa đến Trung tâm y tế huyện C cấp cứu nhưng sau đó đã tử vong.
Quá trình điều tra, khám nghiệm hiện trường xác định: đoạn đường xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng, mặt đường được trãi nhựa bằng phẳng, tổ chức giao thông hai chiều, có bố trí vạch kẻ phân chia làn đường. Mặt đường rộng 5m20. Chọn cột hàng rào của nhà bà Võ Ngọc T3 là điểm chuẩn, chọn hướng đi từ thị trấn B đến thị trấn M làm hướng chuẩn, mép lề phải làm mép chuẩn, xác định vị trí va chạm của xe mô tô biển kiểm soát 95H1-602.20 mặt nạ xe, đầu đèn xe đụng trực diện vào phần ngực của nạn nhân Trương Thị M1. Vùng va chạm nằm bên phần đường bên phải (hướng từ xã T đến thị trấn M), cách lề phải 1,35 mét. T4 trục trước xe mô tô biển kiểm soát 95H1-602.20 đo vuông góc và mép lề phải 03 mét, tâm trục sau đo vuông góc và mép lề phải 2,1 mét.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy: Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do bị cáo Trần Anh T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, gắn biển kiểm soát 95H1- 602.20 chạy “không chú ý quan sát” gây ra tai nạn làm bà Trương Thị M1 tử vong là vi phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ.
+ Kết quả trưng cầu giám định:
Tại Kết luận giám định tử thi số: 131/KLGĐTT-TTPY, ngày 09/11/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh H, đối với tử thi Trương Thị M1 kết luận:
Các kết quả chính:
- + Đa chấn thương, vết thương phần mềm.
- + Gãy đa xương.
- + Tụ huyết dưới da vùng đỉnh, chẩm.
- + Khuyết xương hộp sọ cũ vùng đỉnh, chẩm, thái dương trái.
- + Vỡ, lún xương hộp sọ vùng đỉnh, chẩm trái.
- + Tụ huyết dưới màng cứng hai bán cầu đại não và tiểu não.
- - Kết luận nguyên nhân chết: Chấn thương sọ não.
Tại Kết luận giám định số 1150/KL-KTHS, ngày 14/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận: Trong máu của nạn nhân không tìm thấy E (cồn).
Tại Kết luận giám định độc chất số 1305/1577-1578/23/KLGĐĐC-PYQG, ngày 28/11/2023 của P tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận:
- Trong máu của Trần Anh T không tìm thấy cồn và các chất ma túy.
+ Về tài sản, đồ vật, tài liệu được thu giữ trong vụ án:
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 106/QĐ-ĐTTH ngày 19/2/2023: Trả lại cho bị can Trần Anh T 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] và Quyết định số 107/QĐ-ĐTTH ngày 19/2/2023 trả lại cho ông Trần Văn T1, sinh năm: 1978, ĐKTT: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn Đỏ đen, số máy G3D4E1077360, số khung 1010LY306326, gắn biển kiểm soát 95H1-602.20.
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 057839, tên chủ xe Trần Văn T1.
+ Về trách nhiệm dân sự
Sau khi xảy ra vụ việc bị cáo Trần Anh T đã tự nguyện thỏa thuận khắc phục hậu quả cho gia đình nạn nhân Trương Thị M1 số tiền là 26.000.000 đồng (hai mươi sáu triệu đồng). Đồng thời đại diện gia đình ông Trần Văn T2, là con ruột nạn nhân Trương Thị M1 đã nhận tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Đồng thời tự nguyện viết đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Anh T.
Tại cáo trạng số 18/CT-VKS-HCTA ngày 21 tháng 3 năm 2024 truy tố bị cáo Trần Anh T về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, lời luận tội của Kiểm sát viên vẫn giữ quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 260, Điều 65 của Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 01 (một) năm tù đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm.
Về vật chứng của vụ án: Đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về phần dân sự: Đã giải quyết xong nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Bị cáo Trần Anh T thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đã thực hiện đều hợp pháp. Việc điều tra, truy tố được thực hiện đúng trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 91, 92, 94, 98, 100, 102, 104, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện hợp pháp của bị hại Trương Thị M1 là anh Trần Văn T2 vắng mặt và không có yêu cầu về trách nhiệm dân sự, sự vắng mặt của anh Trần Văn T2 không ảnh hưởng đến việc định tội danh của bị cáo cho nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt anh T2.
[3] Về nhận định của Hội đồng xét xử: Vào khoảng 05 giờ 50 phút, ngày 03/11/2023, bị cáo Trần Anh T điều khiển xe mô tô biển số kiểm soát 95H1 - 602.20 lưu thông trên tuyến lộ 931B, hướng từ xã T đến thị trấn M. Khi đến đoạn thuộc ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang, bị cáo Nguyễn Anh T5 không chú ý quan sát gây ra tai nạn đụng vào người bà Trương Thị M1 đi bộ cùng chiều làm bà M1 bị thương nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi phạm của bị cáo đã phạm vào khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Từ những tình tiết nêu trên và chứng cứ trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa xét thấy hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A truy tố bị cáo Trần Anh T về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của người khác. Việc thiếu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng đối với bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm do bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại và đại diện bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết cách ly khỏi xã hội mà giao về địa phương, quản lý, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong nên không đặt ra xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 106/QĐ-ĐTTH ngày 19/2/2023: Trả lại cho bị cáo Trần Anh T 01 giấy phép lái xe hạng A1, số [...] và Quyết định số 107/QĐ-ĐTTH ngày 19/2/2023 trả lại cho ông Trần Văn T1, sinh năm: 1978, ĐKTT: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang:
- + 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu sơn Đỏ đen, số máy G3D4E1077360, số khung 1010LY306326, gắn biển kiểm soát 95H1-602.20.
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 057839, tên chủ xe Trần Văn T1.
Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Anh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Trần Anh T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án ngày 24 tháng 4 năm 2024. Giao bị cáo Trần Anh T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự đã giải quyết xong nên không đề cập xử lý.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đã giải quyết xong nên không đề cập xử lý.
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Trần Anh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể tử ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)”.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (ĐÃ KÝ) Nguyễn Văn Đua |
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vi phạm giao thông
