|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 21/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân.
1.Ông Phan Đình Báu.
2. Bà Lê Thị Hường.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Hải Long -Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại Hội trường Tòa án huyện N, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/HSST ngày 23/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-HS ngày 06/6/2024 đối với bị cáo:
Châu Ngọc Xuân H (tên gọi khác: Hai N) -sinh năm 2000, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bàlamôn; quốc tịch: Việt nam; con ông Châu N1 (đã chết) và bà Bá Thị L. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/6/2023, bị Công an xã P xử phạt hành chính 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/3/2024 đến ngày 23/3/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt).
-Bị hại: Ông Kiều X –sinh năm: 1965. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+Bà Bá Thị L–sinh năm: 1970. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).
+Ông Võ Phùng E-sinh năm: 1989. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (vắng mặt).
-Người làm chứng:
+Ông Nguyễn Văn B–sinh năm: 1995. Địa chỉ: Số D B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
1
+Anh Châu Ngọc Đại H1-sinh năm: 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận(có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diện biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, Châu Ngọc Xuân H đi ngang qua nhà ông Kiều X ở cùng thôn T, xã P, huyện N, thì phát hiện có chiếc xe mô tô hiệu VISION biển số 85D1-630.69 đang dựng trong sân nhà ông X không khóa cổ nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp. H leo qua hàng rào vào trong sân nhà và dắt xe mô tô trên đi ra phía sau. H lấy kéo nhặt được ở nhà ông X để cắt bản lề cổng phía sau nhà ông X và dắt xe ra ngoài. Vì xe có ổ khóa từ nên H đã dắt xe đến cửa tiệm sửa xe của anh Võ Phùng E ở thị trấn P, huyện N, để thay ổ khóa với giá 1.000.000đồng. Do không có tiền nên H về nhà xin tiền của mẹ tên Bá Thị L được 800.000đồng. Sau đó H nhờ bà L chở đến tiệm sửa xe của anh Võ Phùng E lấy xe. H trả cho anh Võ Phùng E 750.000đồng và còn thiếu 250.000đồng. H tháo biển số 85D1-630.69 đưa cho anh Võ Phùng E để thế chấp rồi lấy xe về. Trên đường chạy vào Đồng Nai thì H đã nhặt được biển số 60F1-402.52, gắn vào chiếc xe trộm được. H điều khiển xe mô tô hiệu VISION có gắn biển số nhặt được 60F1-402.52 đến gửi tại nhà anh Nguyễn Văn B ở thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, Công an xã B mời H và B lên làm việc, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, anh B đã giao nộp xe mô tô trên cho Công an xã B tạm giữ. Ngày 17/3/2024, Công an xã B đã chuyển xe mô tô trên cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N-Ninh Thuận để xử lý theo thẩm quyền.
Tại Biên bản định giá tài sản số 17 ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định giá trị 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu xanh đen đỏ, biển số 85D1-630.69 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 24.150.000đồng.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: +01 xe mô tô hiệu HONDA VISION; +01 biển số xe 85D1-63069; +01 biển số xe 60F1-402.52; +01 cây kéo bằng kim loại đã hoen gỉ.
Dân sự: Anh Võ Phùng E yêu cầu bị cáo H phải trả 250.000đồng tiền làm chìa khóa còn thiếu.
Bản cáo trạng số 30/CT-VKS-HS ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát huyện N truy tố bị cáo Châu Ngọc Xuân H về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Tại phần tranh luận Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Châu Ngọc X1 Hiền từ 06 đến 09 tháng tù.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. HĐXX nhận định:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên. Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án: Lợi dụng đêm khuya và sự sơ hở trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân, nên vào khoảng hơn 03 giờ ngày 12/4/2024, Châu Ngọc Xuân H đã có hành vi lén lút leo qua hàng rào vào trong sân nhà của ông Kiều X ở thôn T, xã P, huyện N, để lấy trộm tài sản là 01 chiếc xe mô tô hiệu VISION, biển số 85D1-630.69 trị giá 24.150.000đồng.
Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, kết quả tranh luận tại phiên tòa. HĐXX kết luận bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản” tại Khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ.
[3] Xét thấy: bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được hành vi Trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện xâm phạm đến tài sản của người khác. Do vậy phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu đã bị Công an xã P xử phạt số tiền 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 29/6/2023. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị trộm cắp đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS;
[5] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát huyện N về việc định tội, định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX xét thấy là hoàn toàn tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[6] Về dân sự: Ông Kiều X và bà Bá Thị L không có yêu cầu về dân sự nên không xét.
3
Trong quá trình điều tra anh Võ Phùng E có yêu cầu bị cáo H phải trả 250.000đồng tiền làm chìa khóa còn thiếu. Xét yêu cầu bồi thường của anh Võ Phùng E là có căn cứ và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho anh Em nên chấp nhận.
[7] Biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tạm giữ và xử lý:
+01 xe mô tô hiệu HONDA VISION và 01 biển số xe 85D1-630.69, xác định là tài sản của ông Kiều X, nên đã trả lại cho ông Kiều X là đúng pháp luật.
+01 cây kéo bằng kim loại đã hoen gỉ, xác định là của ông Kiều X nhưng ông X không có yêu cầu nhận lại, cây kéo không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
+Đối với 01 biển số xe 60F1-402.52, chưa xác định được chủ sở hữu nên cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.
[8] Các vấn đề khác: Anh Võ Phùng E đã có hành vi giúp bị cáo Châu Ngọc Xuân H thay ổ khóa mới cho chiếc xe mô tô hiệu VISION biển số 85D1-630.69. Còn Nguyễn Văn B cho bị cáo H gửi chiếc xe trên tại nhà anh B. Tuy nhiên anh Em và anh B đều không biết nguồn gốc chiếc xe này là do bị cáo H trộm cắp mà có nên anh Em và anh B không bị xử lý hình sự.
Bà Bá Thị L cho bị cáo H mượn số tiền 800.000đ để trả tiền làm ổ khóa mới cho chiếc xe mô tô 85D1-630.69. Nhưng bà L không biết việc H mượn tiền để làm ổ khóa cho chiếc xe có nguồn gốc do H trộm cắp nên bà L không bị xử lý hình sự.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 17/3/2024).
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng: Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải trả cho anh Võ Phùng E số tiền làm chìa khóa còn nợ là 250.000đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải chịu lãi đối với số tiền chậm thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.
3.Về vật chứng:
4
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo bằng kim loại đã hoen gỉ, kích thước (28x9)cm, phần cán có quấn vải màu đỏ. (Vật chứng nêu trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận ngày 24/5/2024).
4.Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5.Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
5
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: /2024/HSST-QĐTG |
N, ngày 21 tháng 6 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân T.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Đình B1 và bà Lê Thị H2.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 21/6/2024 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo Châu Ngọc Xuân H -sinh năm 2000.
Nơi sinh: tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: Làm thuê;
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (21/6/2024).
Điều 2
6
Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
Ninh Phước, ngày 21 tháng 6 năm 2024 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC - TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân T.
Các Hội thẩm Nhân dân: Bà Lê Thị H2 và ông Phan Đình B1.
Căn cứ vào các Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Vào hồi giờ phút, ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại phòng nghị án.
Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Châu Ngọc Xuân H về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
7
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo; Hội đồng xét xử (HĐXX) thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:
1. Về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt đối với bị cáo:
HĐXX thống nhất ý kiến đồng ý quan điểm của Viện kiểm sát huyện N truy tố bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 17/3/2024).
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng: Điều 46 Bộ luật Hình sự, Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải trả cho anh Võ Phùng E số tiền làm chìa khóa còn nợ là 250.000đồng (Hai trăm năm mươi ngàn đồng).
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3.Về vật chứng:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
+Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo bằng kim loại đã hoen gỉ, kích thước (28x9)cm, phần cán có quấn vải màu đỏ.
(Vật chứng nêu trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận ngày 24/5/2024).
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4.Về án phí:
8
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
5.Về quyền kháng cáo:
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị hại-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 21/6/2024).
Kết quả biểu quyết: 3/3.
7. Về Quyết định tạm giam:
HĐXX thống nhất áp dụng Điều 329 Bộ luật hình sự;
Quyết định tạm giam bị cáo Châu Ngọc Xuân H 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 21/6/2024), để đảm bảo cho việc Thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
9
BÁO CÁO, ĐỀ XUẤT GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
Người báo cáo: Dương Thị Xuân T-thẩm phán.
Ngày báo cáo: 17/6/2024.
Ngày xét xử : 21/6/2024
Đối với vụ án hình sự: Châu Ngọc Xuân H can tội “trộm cắp tài sản”.
Những người tham gia tố tụng
Châu Ngọc Xuân H -sinh năm 2000, tại Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Chăm; giới tính: Nam; tôn giáo: Bàlamôn ; quốc tịch: Việt nam; con ông Châu N1 (đã chết) và bà Bá Thị L. Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 29/6/2023, Châu Ngọc Xuân H bị Công an xã P, huyện N xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/3/2024 đến ngày 23/3/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N (có mặt tại phiên tòa).
-Bị hại: Ông Kiều X –sinh năm: 1965. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+Bà Bá Thị L–sinh năm: 1970. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
+Ông Võ Phùng E-sinh năm: 1989. Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Tóm tắt nội dung vụ án
Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 12/3/2024, Châu Ngọc Xuân H đi ngang qua nhà ông Kiều X ở thôn T, xã P, huyện N, thì phát hiện chiếc xe mô tô hiệu VISION, biển số 85D1-630.69 đang dựng trong sân nhà không khóa cổ nên H đã nảy sinh ý định trộm cắp. H leo qua hàng rào vào sân nhà và dắt xe mô tô trên đi ra phía sau nhà. H dùng kéo nhặt được ở nhà ông X cắt bản lề của cổng phía sau nhà và dắt xe ra ngoài. Vì xe có ổ khóa từ nên H đã dắt xe đến cửa tiệm sửa xe của anh Võ Phùng E ở thị trấn P, huyện N, để thay ổ khóa với giá 1.000.000đồng. H về nhà xin tiền của mẹ tên Bá Thị L, được 800.000đồng. Sau đó H nhờ bà L chở H đến tiệm sửa xe của anh Võ Phùng E lấy xe. H trả cho anh Võ Phùng E 750.000đồng và còn thiếu 250.000 đồng. H tháo biển số 85D1-630.69 đưa cho anh Võ Phùng E để thế chấp rồi lấy xe về. Trên đường
10
chạy vào Đồng Nai thì H đã nhặt được biển số 60F1-402.52, gắn vào chiếc xe trộm được. H điều khiển xe đến gửi tại nhà anh Nguyễn Văn B, ở thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nhờ giữ giùm. Sau đó, Công an xã B mời H và B lên làm việc, H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, anh B đã giao nộp xe mô tô trên cho Công an xã B. Ngày 17/3/2024, Công an xã B đã chuyển xe mô tô trên cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N xử lý theo thẩm quyền.
Tại Biên bản định giá tài sản số 17, ngày 19/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định giá trị 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA VISION, màu xanh đen đỏ, biển số: 85D1-630.69 tại thời điểm bị chiếm đoạt là 24.150.000đồng.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ: +01 xe mô tô hiệu HONDA VISION; +01 biển số xe 85D1-63069; +01 biển số xe 60F1-402.52; +01 cây kéo bằng kim loại đã hoen gỉ.
Về dân sự: Ông Kiều X và bà Bá Thị L không có yêu cầu về dân sự.
Võ Phùng E yêu cầu bị cáo H phải trả 250.000đ tiền làm chìa khóa còn thiếu.
Nhận định
[1] Nội dung vụ án: Lợi dụng đêm khuya và sự sơ hở trong việc quản lý, bảo vệ tài sản của người dân, nên vào khoảng hơn 03 giờ ngày 12/4/2024, Châu Ngọc Xuân H đã có hành vi lén lút leo hàng rào vào trong sân nhà của ông Kiều X ở thôn T, xã P, huyện N, để lấy trộm tài sản là 01 chiếc xe mô tô hiệu VISION, biển số 85D1-630.69 trị giá 24.150.000đồng.
Lời khai bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, tài liệu chứng cứ trong hồ sơ, kết quả tranh luận tại phiên tòa. HĐXX kết luận bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản” tại Khoản 1 Điều 173 BLHS là có căn cứ.
[2] Xét tính chất mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân xấu, vào ngày 29/6/2023, bị Công an xã P-N xử phạt 1.500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên cần xét cho bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản bị trộm cắp đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS;
[3] Về dân sự: Ông Kiều X và bà Bá Thị L không có yêu cầu về dân sự nên không xét.
Anh Võ Phùng E yêu cầu bị cáo H phải trả 250.000đồng tiền làm chìa khóa còn thiếu. Xét yêu cầu bồi thường của Võ Phùng E là đúng pháp luật nên chấp nhận.
[4] Biện pháp tư pháp: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tạm giữ và xử lý:
11
+01 xe mô tô hiệu HONDA VISION và 01 biển số xe 85D1-630.69, xác định là tài sản của ông Kiều X, nên đã trả lại cho ông Kiều X là đúng pháp luật.
+01 cây kéo bằng kim loại đã hoen gỉ, xác định là của ông Kiều X nhưng ông Kiều X không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy là có căn cứ.
+Đối với 01 biển số xe 60F1-402.52, chưa xác định được chủ sở hữu nên cần giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ và xử lý sau.
Đề xuất hướng giải quyết
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017.
-Tuyên bố: Bị cáo Châu Ngọc Xuân H phạm tội “trộm cắp tài sản”.
-Xử phạt: Bị cáo Châu Ngọc X1 Hiền từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 17/3/2024).
2. Về trách nhiệm dân sự: Điều 46 BLHS, Điều 584, 585, 586, 589 BLDS.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải trả cho anh Võ Phùng E số tiền làm chìa khóa còn nợ là 250.000đồng.
3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
+Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây kéo bằng kim loại, đã hoen gỉ, kích thước (28x9)cm, phần cán có quấn vải màu đỏ.
4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Châu Ngọc Xuân H phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Ý kiến của Phó Chánh án:
Ý kiến của Chánh án:
12
Người báo cáo, đề xuất
Dương Thị Xuân thủy
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 18/2022/HSST-QĐTG |
N, ngày 22 tháng 4 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
13
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân T.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc M và ông Hán Văn M1.
Căn cứ các điều 109, 113, 119 và 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ Biên bản nghị án ngày 22/4/2022 của Hội đồng xét xử sơ thẩm;
Xét thấy cần thiết tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Tạm giam bị cáo Q Anh G - sinh ngày 10/6/2005.
Nơi sinh: tại Ninh Thuận.
Nơi cư trú: Thôn H, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Nghề nghiệp: không.
Bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt 18 (mười tám) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Theo điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 54, Điều 58; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Thời hạn tạm giam là 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (22/4/2022).
Điều 2
Nhà tạm giữ Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận có trách nhiệm thi hành Quyết định này.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Xuân Thủy |
14
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châu Ngọc Xuân H về tội “trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
