Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH AN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HSST

Ngày: 27/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Hoàn

2. Bà Nguyễn Thị Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Nông Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Lý Mai Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 16/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2024/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đối với các bị cáo:

1. Bàn Văn T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/3/1999 tại xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12 phổ thông; Con ông: Lương Văn T1 - sinh năm 1977; Con bà: Bàn Thị M - sinh năm 1974; Cùng cư trú: xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em: Gia đình bị cáo có 03 anh chị em. bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến nay. Hiện nay, đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

2. Triệu Văn V; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 11/9/1993 tại xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Dao; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12 phổ thông; Con ông: Triệu Văn T2 - sinh năm 1956; Con bà: Lý Thị L - sinh năm 1952; Cùng cư trú: xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Anh chị em: Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ bảy trong gia đình; Vợ: Lý Thị H, sinh năm 1999; Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Con: Có 01 con, sinh năm 2016.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 28/12/2021, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2024 đến nay. Hiện nay đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Triệu Văn O; sinh năm: 1974; Nơi cư trú: xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên toà có lý do.

- Người làm chứng: Ông Hoàng Văn C; sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do bản thân nghiện ma túy nên ngày 24/05/2024, Bàn Văn T đi đến khu vực B, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn mua ma túy về sử dụng. Sau khi mua được ma túy và sử dụng, T gặp Triệu Văn V rồi cùng nhau đi đến nhà một người đàn ông tên Thực tại xã Đ, huyện N, tỉnh Bắc Kạn và ngủ lại đấy. Tại đây, T và V gặp Triệu Văn O (là anh trai của V). Khoảng 13 giờ ngày 25/5/2024, V mượn xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX, màu đen xám, biển kiểm soát: 97F5-7277 của O nói là đi có việc nhưng thực chất là đi mua ma túy. Trước khi đi, hai người cùng thống nhất góp tiền để mua ma tuý, trong đó T góp 150.000,₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng) còn V chỉ góp 50.000,₫ (năm mươi nghìn đồng) rồi đưa tiền cho T cầm. Khi đến khu vực chợ B, V vào hiệu thuốc mua 01 (một) lọ nước cất, 01 (một) bơm kim tiêm y tế hết 3.000,₫ (ba nghìn đồng) rồi hai người đi tiếp một đoạn đường thì gặp một người đàn ông không quen biết. Vạng hỏi

người này mua ma túy với số tiền 200.000,₫ (hai trăm nghìn đồng). Người này đưa cho T 01 (một) gói ma tuý được bọc bằng giấy bạc màu vàng. T cầm ma túy trên tay trái rồi rủ V quay về nhà T chơi. Trên đường quay về, hai người dừng xe đi vào bụi rậm ven đường sử dụng ma túy. Tại đây, T mở bọc bên trong chứa ma túy ra rồi V và T từng người tự lấy mảnh giấy (được xé từ vỏ bao thuốc lá) để gạt lấy một phần ma túy. Sau đó, mỗi người tự lấy bơm kim tiêm và nước cất ra để sử dụng ma tuý bằng hình thức chích trực tiếp vào cơ thể. Phần ma túy còn lại Thanh gói lại và đưa cho V cầm. Sau đó, hai người đi đến nhà người tên T3 tại xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Tại đây, hai người gặp Hoàng Văn C (là người cùng thôn với T3 và có quen biết với Bàn Văn T). Khi T và V đi về, C đi theo sau và hỏi mua ma tuý với T thì T dừng xe tại khu vực gần nhà văn hóa thôn T. T cùng V thống nhất bán cho C một phần ma tuý với số tiền 60.000,₫ (sáu mươi nghìn đồng). T lấy ma tuý từ chỗ V đang cầm chia lấy một phần nhỏ bọc lại bằng mảnh giấy bạc màu vàng đưa cho C. Số ma tuý còn lại T thống nhất với V để T cất giữ nhằm mục đích bán lại khi có người khác hỏi mua lấy tiền mua rượu uống nếu không bán được thì để sử dụng. Sau đó, T và V quay lại nhà T3 mua xăng hết 10.000,₫ (mười nghìn đồng) rồi đi xe đến nhà Triệu Văn T4 chơi, mua rượu hết 20.000,₫ (hai mươi nghìn đồng) để cùng nhau uống. Đến 20 giờ 30 phút cùng ngày, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với Công an xã Q phát hiện, bắt quả tang thu giữ tang vật tại nhà của Triệu Văn T4 gồm: 01 (một) bơm kim tiêm y tế; 01 (một) gói nhỏ (T4 và V khai nhận là ma túy); Số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng); 01 (một) xe máy Yamaha Jupiter biển kiểm soát 97F5-7277.

Ngày 26/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp các cơ quan chức năng tiến hành cân xác định khối lượng chất bột màu trắng (nghi là heroine) thu giữ của Bàn Văn T và Triệu Văn V có khối lượng là 0,03g (không phảy không ba gam).

Ngày 27/5/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số: 122/QĐ-ĐCSHS-KTMT trưng cầu Phòng K công an tỉnh C giám định số ma túy thu giữ của Bàn Văn T và Triệu Văn V. Tại bản kết luận giám định số: 301/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: "Chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D".

Ngày 10/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành khám xét nơi ở của Bàn Văn T tại thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng kết quả không phát hiện và thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Ngày 11/6/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T phối hợp với cơ quan chức năng có thẩm quyền tiến hành khám xét nơi ở của Triệu Văn V tại xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng kết quả không phát hiện và thu giữ đồ vật tài liệu gì.

Hành vi của Bàn Văn T và Triệu Văn V đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-TA ngày 28/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố các bị cáo Bàn Văn T và Triệu Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Bàn Văn T và Triệu Văn V thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến và nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng như kết luận giám định số: 301/KL-KTHS ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh C.

Bị cáo Bàn Văn T khai nhận: Bị cáo và bị V cùng thống nhất góp tiền mua ma tuý về sử dụng, bị cáo góp 150.000,₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo V góp 50.000,₫ (năm mươi nghìn đồng). Bị cáo V mượn chiếc xe máy Yamaha Jupiter MX của Triệu Văn O để đi mua ma tuý. Bị cáo và bị cáo V thống nhất bán lại cho Hoàng Văn C một phần ma túy với số tiền 60.000,₫ (sáu mươi nghìn đồng). Số tiền bán ma tuý bị cáo và bị cáo V đã mua xăng 10.000,₫ (mười nghìn đồng), mua rượu 20.000,₫ (hai mươi nghìn đồng). Số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) bị thu giữ là số tiền còn lại của số tiền bán ma tuý. Đối với số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) đã tiêu xài, bị cáo và bị cáo V mỗi người nộp lại ½ để sung công quỹ nhà nước. Số ma túy còn lại sau khi bán cho C, bị cáo và bị cáo V thống nhất để bị cáo cất giữ nhằm mục đích bán lại khi có người khác hỏi mua nếu không bán được thì để sử dụng. Đối với số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) bị thu giữ bị cáo không có ý kiến gì.

Bị cáo Triệu Văn V khai nhận: Bị cáo và bị cáo T cùng thống nhất góp tiền mua ma tuý về sử dụng, bị cáo T góp 150.000,₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng), bị cáo góp 50.000,₫ (năm mươi nghìn đồng). Bị cáo đã mượn chiếc xe máy Yamaha Jupiter MX của anh trai bị cáo - Triệu Văn O để đi mua ma tuý. Bị cáo và bị cáo T cùng thống nhất bán lại cho Hoàng Văn C một phần ma túy với số tiền 60.000,₫ (sáu mươi nghìn đồng). Số tiền bán ma tuý bị cáo và bị cáo T đã mua xăng 10.000,₫ (mười nghìn đồng), mua rượu 20.000,₫ (hai mươi nghìn đồng). Số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) bị thu giữ là số tiền còn lại của số tiền bán ma tuý. Đối với số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) đã tiêu xài, bị cáo và bị cáo T mỗi người nộp lại ½ để sung công quỹ nhà nước. Số ma túy còn lại sau khi bán cho C, bị cáo và bị cáo T thống nhất để T cất giữ nhằm mục đích bán lại khi có người khác hỏi mua nếu không bán được thì để sử dụng. Đối với số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) bị thu giữ bị cáo không có ý kiến gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Triệu Văn O vắng mặt tại phiên toà. Tuy nhiên, trong đơn xin xét xử vắng mặt ông O đề nghị được trả lại chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX, biển kiểm soát 97F5-7277 bởi khi bị cáo V mượn chiếc xe này chỉ nói là đi có việc, ông không biết bị cáo V sử dụng chiếc xe để đi mua ma tuý.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Bàn Văn T và Triệu Văn V đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bàn Văn T, tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Triệu Văn V, tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bơm kim tiêm đã qua sử dụng.
  • + Tịch thu, sung công quỹ nhà nước 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) tạm giữ của Bàn Văn T ngày 25/5/2024. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Ngân hàng N chi nhánh huyện T. Kèm Biên bản mở niêm phong xác định tang vật vụ án ngày 30/8/2024 của Ngân hàng N chi nhánh huyện T.
  • + Truy thu đối với các bị cáo số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) do phạm tội mà có.
  • + Trả lại cho ông Triệu Văn O 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97F5-7277, loại xe: hai bánh từ 50 - 175cm3, nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX, số loại: 110, màu sơn: Đen xám, xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự cho các bị cáo.

Tại phần tranh luận, các bị cáo Bàn Văn T và Triệu Văn V không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.

Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi và quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện T, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên tòa hôm nay, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét; lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; kết

luận giám định; vật chứng cùng các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 25/05/2024 tại khu vực thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng Bàn Văn T và Triệu Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 0,03 (không phảy không ba) gam heroine. Quá trình điều tra, T và V khai nhận được mua ma tuý với người đàn ông không rõ tên, tuổi, địa chỉ tại chợ thuộc khu vực B, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn với giá 200.000,₫ (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua về cùng sử dụng, số ma túy còn lại T và Vạng đã thống nhất bán cho Hoàng Văn C một phần ma túy với số tiền 60.000,₫ (sáu mươi nghìn đồng) tại khu vực nhà văn hóa thôn T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Số ma túy còn lại, T và V thống nhất để T cất giữ nhằm mục đích bán lại khi có người khác hỏi mua nếu không bán được thì để sử dụng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Bàn Văn T và Triệu Văn V về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2.............”

[3]. Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này, các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công mà chỉ là đồng phạm giản đơn.

[4]. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Đối với bị cáo Bàn Văn T:

Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy và là người chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với bị cáo Triệu Văn V:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, chưa có tiền sự nhưng đã bị kết án về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 28/12/2021, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xử phạt 12 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù vào ngày 10/9/2022. Ngày 25/5/2024, bị cáo thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý. Như vậy, bị cáo chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[5]. Về hình phạt chính:

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Bàn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; bị cáo Triệu Văn V 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, căn cứ nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo nhận thấy như sau:

Bị cáo T là người chưa có tiền án, tiền sự; có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không có tình tiết tăng nặng trách

nhiệm hình sự nên mức hình phạt 02 năm tù là phù hợp với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Bị cáo V là người có nhân thân xấu, chưa có tiền sự nhưng đã có 01 tiền án. Bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 và có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên mức hình phạt 02 năm 06 tháng tù phù hợp với tính chất mức độ hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) còn quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”. Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[7]. Về những vấn đề khác:

Về nguồn gốc ma túy, các bị cáo Bàn Văn T và Triệu Văn V khai nhận mua với một người đàn ông không biết họ tên và địa chỉ tại chợ thuộc khu vực B, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Do đó, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để xác minh, xử lý.

Đối với Hoàng Văn C là đối tượng mua ma túy với T và V. Mục đích mua ma tuý là về sử dụng cho bản thân nên công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức cảnh cáo tại quyết định số: 74/QĐ-XPHC ngày 20/8/2024.

Đối với số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) các bị cáo đã tiêu xài cá nhân: Đây là số tiền các bị cáo bán ma tuý mà có. Tại phiên toà, các bị cáo nhất trí mỗi bị cáo nộp lại ½ để sung công quỹ nhà nước nên cần buộc các bị cáo mỗi người nộp lại ½ số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.

[8]. Về xử lý vật chứng:

  • - 01 (một) bơm kim tiêm đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ.
  • - Số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) thu giữ theo vụ án là số tiền các bị cáo bán ma tuý mà có nên cần tịch thu sung công quỹ nhà nước.
  • - Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 97F5-7277, nhãn hiệu Yamaha Jupiter MX, số loại: 110, màu sơn: Đen xám, xe cũ đã qua sử dụng là xe của ông Triệu

Văn O. Khi bị cáo V sử dụng chiếc xe này để đi mua ma tuý ông O không biết nên cần trả lại cho ông Triệu Văn O.

[9]. Về án phí: Theo hồ sơ vụ án, bị cáo T là người dân tộc Dao, cư trú tại xóm T, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng; bị cáo V là người dân tộc Dao, cư trú tại xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Xã Q, huyện T và xã H, huyện N thuộc khu vực III theo Quyết định số: 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được miễn án phí. Các bị cáo có đơn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm nên các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Triệu Văn O được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố:

Các bị cáo Bàn Văn T, Triệu Văn V phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Bàn Văn T

Xử phạt bị cáo Bàn Văn T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 25/5/2024.

Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Triệu Văn V.

Xử phạt bị cáo Triệu Văn V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 25/5/2024.

Buộc hai bị cáo Bàn Văn T, Triệu Văn V mỗi bị cáo phải nộp lại số tiền 15.000,₫ (mười lăm nghìn đồng) để sung công quỹ nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:

  • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bơm kim tiêm đã qua sử dụng
  • - Tịch thu, sung công quỹ nhà nước số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) trong 01 (một) phong bì niêm phong mặt trước ghi số tiền 30.000,₫ (ba mươi nghìn đồng) tạm giữ của Bàn Văn T ngày 25/5/2024. Mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong cùng con dấu của Ngân hàng N chi nhánh huyện T. Kèm Biên bản mở niêm phong xác định tang vật vụ án ngày 30/8/2024 của Ngân hàng N chi nhánh huyện T.
  • - Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Triệu Văn O 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 97F5-7277, loại xe: hai bánh từ 50- 175cm3, nhãn hiệu: YAMAHA JUPITER MX, số loại: 110, màu sơn: Đen xám, xe cũ đã qua sử dụng. Qua kiểm tra thực tế xe có 01 gương chiếu hậu bên trái, vỏ thân xe bị trầy xước, yên xe bị rách, yếm phải phía dưới bị mất một mảnh, có 01 chìa khoá xe kèm theo, số khung, số máy đã bị đục phá, xoá. Kèm phiếu trả lời xác minh xe ngày 14/6/2024 của Công an huyện T.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 23 ngày 30/8/2024.

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Các bị cáo Bàn Văn T, Triệu Văn V được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Triệu Văn O có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Cao Bằng;
  • -VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • -VKSND h. Thạch An;
  • -THADS h. Thạch An;
  • -Bị cáo;
  • -NCQLNVLQ;
  • -Lưu hồ sơ;
  • -Lưu án văn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quỳnh Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 21/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH AN, TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bàn Văn Thanh - Triệu Văn Vạng Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger