|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS- ST Ngày 12-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁÍ
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Tòng Văn Quân
Các Hội thẩm thân dân: Ông Sùng A Xà.
Bà Lò Thị Mỹ Lệ.
- Thư ký phiên toà: Ông Lý A Dà- Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải tham gia phiên toà: Ông Lý A Việt- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST- HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2024/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Hàng Thị S
Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1996, tại huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: bản N, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hàng A G- sinh năm 1969 và bà Sùng Thị C- sinh năm 1966; có chồng là Chang A- sinh năm 1994 và 02 con (con lớn sinh 2015, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện M. Có mặt.
- Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị H- Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.
- Người phiên dịch: Ông Thào A D, sinh năm 1979; Nghề nghiệp: Cán bộ Toà án; trú tại: Tổ E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/5/2024, khi tổ công tác Công an xã N làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã N, huyện M thì phát hiện Hàng Thị S đang có mặt tại khu vực bờ ruộng thuộc bản N, xã N có biểu hiện nghi vấn mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành tiếp cận kiểm tra, yêu cầu Hàng Thị S có đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vi phạm pháp luật thì tự giác giao nộp. Hàng Thị S tự giác lấy từ trong người ra giao nộp 01 gói bằng nilon màu xanh buộc thắt nút một đầu, bên trong có 11 gói đều bằng nilon màu xanh, đều hàn túm một đầu, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy bên trong có 06 gói đều bằng nilon màu xanh, đều hàn túm một đầu, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột nén màu trắng; tiền có chữ Ngân hàng N1 1.668.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động. Hàng Thị S khai nhận các gói nilon màu xanh chứa chất bột nén màu trắng trên là ma túy của bản thân cất giấu với mục đích bán kiếm lời.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Hàng Thị S tại bản N, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái, không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan.
* Tại bản Kết luận giám định số: 257/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y kết luận:
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hàng Thị S trong gói nilon màu xanh buộc thắt nút một đầu có tổng khối lượng là: 2,59 gam.
- - 0,19 gam trích từ 2,59 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hàng Thị S trong lọ nhựa màu trắng có nắp đậy có tổng khối lượng là: 0,6 gam.
- - 0,1 gam trích từ 0,6 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
* Tại Kết luận giám định số: 256/KL-KTHS ngày 10/5/2024 của phòng K Công an tỉnh Y kết luận: Số tiền 1.668.000 (Một triệu sáu trăm sáu mươi tám nghìn đồng) gửi giám định đều là tiền thật do Ngân hàng N1 phát hành.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Hàng Thị S khai nhận: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 01/5/2024, Hàng Thị S gặp và mua của người đàn ông không quen biết 01 gói Heroine với số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S mang về cất giấu, đến khoảng 07 giờ 00 phút ngày 03/5/2024, khi các thành viên trong gia đình không có ai ở nhà, S lấy gói Heroine trước đó đã mua được vào cạnh bếp lửa trong nhà dùng kéo chia thành 18 phần và dùng mảnh nilon màu xanh gói lại thành 18 gói nhỏ. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, S mang theo toàn bộ số Heroine trên cất giấu trên người và đi chăn thả gia súc với mục đích gặp ai có nhu cầu mua thì bán, S đã bán cho một người nam giới dân tộc Thái không quen biết 01 gói Heroine với số tiền 70.000 đồng. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Công an xã N phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Cáo trạng số: 21/CT- VKS- MCC ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải truy tố Hàng Thị S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo trong quá trình thực hiện tội phạm và giữ nguyên quan điểm truy tố.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hàng Thị S từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Do bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiêu huỷ vật chứng là ma tuý; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước 70.000 đồng do phạm tội mà có.
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động màu xanh, loại màn hình cảm ứng, mặt sau có ký hiệu R đã qua sử dụng và số tiền 1.598.000 đồng.
Người bào chữa trình bày lời bào chữa cho bị cáo: Nhất trí với tội danh và điều khoản do Viện kiểm sát truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, chưa có tiền án, tiền sự; nhận thức pháp luật còn hạn chế; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Xử phạt bị cáo Hàng Thị S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Bị cáo thuộc hộ nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến bổ sung. Khi được nói lời sau cùng, đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Mù Cang Chải, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các thành viên của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thủ tục tố tụng tại phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2]. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với biên bản thu giữ vật chứng, phù hợp với kết luận giám định, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 03/5/2024 Hàng Thị S mua một lượng ma tuý với giá 1.500.000 đồng của một người không quen biết với mục đích bán kiếm lời. Cụ thể: khoảng 12 giờ ngày 03/5/2024, Hàng Thị S đã bán cho một người không quen biết 01 gói Heroine giá 70.000 đồng. Số Heroine còn lại 3,19 gam Hàng Thị S cất giấu với mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc “Mua bán trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật, nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống ma tuý, mà còn làm gia tăng tệ nạn nghiện ma tuý, là nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tội phạm khác trên địa bàn, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử áp dụng khi quyết định hình phạt.
[5]. Về nhân thân: Bị cáo là người phụ nữ dân tộc thiểu số, không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, chưa bị kết án, chưa bị xử lý hành chính, Ngoài lần phạm tội này bị cáo chấp hành đúng chính sách pháp luật của Nhà nước thể hiện bị cáo là người có nhân thân tốt.
[6]. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời cũng đảm bảo răn đe, phòng ngừa chung.
[7]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có khả năng, điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8]. Các vấn đề khác liên quan đến vụ án:
- Đối với người bán và người nam giới dân tộc Thái mua ma túy của bị cáo: Do bị cáo không biết tên, địa chỉ cụ thể do đó Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ.
- Đối với Lê Huy G1 – Sinh năm 1974 và Lù Văn T – Sinh năm 1977 cùng trú tại bản Có Thái, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái (là những người Công an xã N, huyện M xác định là các đối tượng nghi vấn mua ma túy của Hàng Thị S): Lê Huy G1 khai khoảng 16 giờ 00 ngày 02/5/2024, tại nhà ở của Hàng Thị S, G1 đã mua 01 gói Heroine của S với số tiền 50.000 đồng, tuy nhiên qua đối chất S không thừa nhận. Việc mua bán ma túy giữa Lê Huy G1 và Hàng Thị S ngoài lời khai của Lê Huy G1 thì không có ai biết. Do đó, không đủ căn cứ xử lý đối với Hàng Thị S về việc này.
Quá trình xác minh, triệu tập Lù Văn T vắng mặt tại nơi cư trú đến nay không rõ làm gì, ở đâu. Đồng thời, quá trình điều tra Hảng Thị S1 khai nhận chỉ bán ma túy duy nhất một lần cho một người nam giới dân tộc Thái không quen biết, vì vậy chưa đủ căn cứ để xử lý.
[9]. Về xử lý vật chứng:
- Đối với lượng Heroine còn lại là 2,9 gam được niêm phong vào 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Hàng Thị S - SN: 1996, phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra tại bản Nậm Pẳng, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 03/5/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy. Không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động màu xanh, loại màn hình cảm ứng, mặt sau có ký hiệu Redmi đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, là tài sản hợp pháp của bị cáo không liên quan đến vụ án cần trả lại cho bị cáo.
- Tiền Ngân hàng N1 1.668.000 đồng Trong đó: 70.000 đồng là tiền do bị cáo phạm tội (bán ma túy) mà có, cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước; số tiền còn lại 1.598.000 đồng là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.
[10]. Về án phí: Do bị cáo thuộc hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
[11]. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Hàng Thị S phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hàng Thị S 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 03/5/2024.
3. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ: 2,9 gam Heroine được niêm phong vào 01 phong bì do phòng K Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước có ghi: “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Hàng Thị S - SN: 1996, phạm tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra tại bản Nậm Pẳng, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái ngày 03/5/2024” (sau khi trích mẫu giám định). Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có chữ ký, họ tên của Nguyễn Xuân T1, Nguyễn Thị Thu H1, Hoàng Hữu Quốc T2, Nguyễn Đăng N và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật Công an tỉnh Y; 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong, các mảnh nilon gói; 01 lọ nhựa màu trắng có nắp đậy.
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 70.000 đồng (Bảy mươi nghìn đồng).
- Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động màu xanh, loại màn hình cảm ứng, mặt sau có ký hiệu R đã qua sử dụng và 1.598.000 đồng (Một triệu năm trăm chín mươi tám nghìn đồng).
4. Về án phí:
Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,
Bị cáo Hàng Thị S được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng vào các Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tòng Văn Quân |
Bản án số 21/2024/HS- ST ngày 12/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 21/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÙ CANG CHẢI, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 03/5/2024 Hàng Thị S mua một lượng ma tuý với giá 1.500.000 đồng của một người không quen biết với mục đích bán kiếm lời. Cụ thể: khoảng 12 giờ ngày 03/5/2024, Hàng Thị S đã bán cho một người không quen biết 01 gói Heroine giá 70.000 đồng. Số Heroine còn lại 3,19 gam Hàng Thị S cất giấu với mục đích bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”
