|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập–Tự do–Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HS-ST Ngày: 15 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.
- -Các hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Trước.
- Bà Huỳnh Kim Phượng.
- -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
- -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Bà Huỳnh Thị Ngọc Huyền– Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 14/ 2024/ TLST- HS ngày 26 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
1. Trịnh Thị Hồng T, sinh ngày: 20/11/1979. Tại: Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không.
Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Quang K, sinh năm: 1941 (còn sống) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1942 ( đã chết); Chồng: Nguyễn Hoàng K1, sinh năm 1975; Con: có 02 người lớn nhất sinh năm: 2003, nhỏ nhất sinh năm: 2011; Anh chị em ruột: 07 người lớn nhất sinh năm: 1970, nhỏ nhất là bị cáo; Tiền án: Không; Tiền sự: 01: Ngày 05/4/2023 bị Ủy ban nhân dân thị trấn L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc. Bị cáo đã nộp phạt ngày 05/6/2023.
Ngày 11/01/2024 bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can và được tại ngoại điều tra, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
1
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 05/4/2023, Trịnh Thị Hồng T bị Ủy ban nhân dân thị trấn L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000đ về hành vi đánh bạc và đã chấp hành xong nộp phạt ngày 05/6/2023.
Khoảng 12 giờ ngày 15/12/2023, T đến quán nước giải khát không còn hoạt động kinh doanh, không người trông giữ của ông Bùi Văn V thuộc khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. T vào gặp Nguyễn Thị N, sinh năm 1957 cư trú khóm C, thị trấn L; Trầm Thị T2, sinh năm 1958, cư trú khóm B, thị trấn L. Tại đây, T rủ N, T2 đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền thì tất cả cùng đồng ý. T2 đi mua 03 bộ bài tứ sắc đem về đánh bài ăn thua bằng tiền.
Khoảng 13 giờ cùng ngày thì bắt đầu đánh bài ăn thua bằng tiền. Hình thức đánh bài tứ sắc loại 112 lá, người chơi sẽ được chia 20 lá bài khác nhau; người cầm cái sẽ được chia 21 lá và được ra bài đầu tiên. Mỗi ván bài thắng thua từ 5.000 đồng đến 10.000 đồng. Nếu ai tới chơn thì thắng mỗi người 5.000 đồng, nếu thắng quan thì thắng mỗi người 10.000 đồng. Khi bắt đầu đánh bài thì T dùng số tiền 80.000₫ để đánh bạc, N dùng số tiền 100.000đ để đánh bạc, T2 dùng số tiền 50.000đ để đánh bạc.
Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, T thua 20.000đ, N thắng 20.000đ, T2 không thắng thua thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L phối hợp Công an thị trấn L kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ số tiền dùng vào việc đánh bạc 230.000đ, 03 bộ bài tứ sắc. Ngoài ra còn thu giữ số tiền không dùng vào việc đánh bạc của N 200.000đ, của T 600.000đ và 01 điện thoại di động Iphone X màu đen.
Hành vi của Nguyễn Thị N, Trầm Thị T2 không đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho Trịnh Thị Hồng T 01 điện thoại di động Iphone X màu đen. Số tang vật còn lại chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự để bảo quản.
Cáo trạng số 14/CT-VKS, ngày 25 tháng 03 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long truy tố:
Trịnh Thị Hồng T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
-Tại phiên tòa: Bị cáo Trịnh Thị Hồng T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.
-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Trịnh Thị Hồng T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Thị Hồng T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2
Đề nghị xử phạt bị cáo Trịnh Thị Hồng T mức án từ 09 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321, phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: Số tiền 80.000 đồng của bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng.
Đề nghị trả lại cho bị cáo số tiền 600.000 đồng.
Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
-Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.
[2].Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Trịnh Thị Hồng T có tiền sự về hành vi đánh bạc. Từ khoảng 13 giờ đến 14 giờ 10 phút ngày 15/12/2023, tại quán nước giải khát không còn hoạt động kinh doanh, không người trông giữ thuộc khóm E, thị trấn L, huyện L, tỉnh Vĩnh Long, T cùng với Nguyễn Thị N và Trầm Thị T2 tham gia đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền với tổng số tiền đánh bạc là 230.000 đồng.
3
Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Trịnh Thị Hồng T đã phạm vào tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khỏan 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3].Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo biết việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã có hành vi tụ tập nhiều người cới hình thức đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền. Bản thân bị cáo đã có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc bị phạt với số tiền là 1.500.000 đồng nhưng sau khi nộp phạt xong bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, cho thấy việc chấp hành pháp luật của bị cáo là chưa cao. Tuy nhiên số tiền đánh bạc của bị cáo là không lớn, Hội đồng xét xử có xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Không
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
[6]. Về xử lý vật chứng: Số tiền 80.000 đồng của bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung quỹ Nhà nước, số tiền 600.000 đồng của bị cáo không dùng vào việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo.
[7].Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Thị Hồng T phạm tội “ Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trịnh Thị Hồng T 09 ( Chín) tháng cải tạo không giam giữ.
Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày cơ quan, tổ
4
chức được giám sát giáo dục người bị kết án nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát giáo dục.
Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian chấp hành án, bị cáo còn phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ.
2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung vào công quỹ Nhà nước: Số tiền 80.000 đồng ( Tám chục ngàn đồng) của bị cáo dùng vào việc đánh bạc.
Tịch thu tiêu hủy: 03 bộ bài tứ sắc đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo: Số tiền 600.000 đồng ( Sáu trăm ngàn đồng) của bị cáo không dùng vào việc đánh bạc.
( Theo biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng ngày 26/03/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án
5
được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Võ Công Bằng |
6
Bản án số 21/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 21/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
