|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST
Ngày 30 - 7 - 2024
“V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Giang, ông Ngô Trọng Búp
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Đức - Thư ký Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M'Đrắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Bằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại hội trường Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 30/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20a/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 33/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H sinh năm 1995. Địa chỉ: Thôn 18, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk (Vắng tại – Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Trần Quốc D sinh năm 1992. Địa chỉ: Thôn 3, xã K, huyện M, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị T sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn 18, xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk (Vắng mặt – có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:
Bà Lê Thị H và ông Trần Quốc D đăng ký kết hôn vào ngày 16/5/2023 tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã và nhiều vấn đề khác không thể hòa hợp dẫn đến vợ chồng không cùng quan điểm sống. Nên giữa bà Hoàn và ông Dũng đã sống ly thân được một thời gian. Nay bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Quốc D.
Về con chung: Bà Hoàn và ông Dũng có 01 con chung là Trần Lê Minh A sinh ngày 05/5/2022. Do con còn nhỏ nên hiện nay vẫn do bà Hoàn nuôi dưỡng. Bà Hoàn có nguyện vọng sau khi ly hôn vẫn tiếp tục được nuôi dưỡng con đến khi đủ 18 tuổi và không yêu cầu ông Dũng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự tự thoả thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với số tiền 3.000.000 đồng/tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
* Bị đơn ông Trần Quốc D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt, không cung cấp văn bản và tài liệu chứng cứ cho Tòa án.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Thẩm phán xác định đúng quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết, tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) và thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định về trình tự thủ tục tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị HĐXX tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Lê Thị H được ly hôn với ông Trần Quốc D.
+ Về con chung: Giao con Trần Lê Minh A sinh ngày 05/5/2022 cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.
+ Về cấp dưỡng nuôi con chung, nợ chung và tài sản chung, đương sự không yêu cầu nên đề nghị không đặt ra giải quyết.
+ Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện M'Đrắk theo quy định tại Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lý lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/5/2023. Quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp. Kết quả xác minh và lời khai của nguyên đơn cho thấy, nguyên đơn và bị đơn đã không còn chung sống từ đầu năm 2024 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau, không có hành động gì để hàn gắn hôn nhân. Mặt khác, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn nhiều lần nhưng bị đơn không chấp hành, không đến Tòa án để làm việc, như vậy bị đơn đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân. Do đó, mâu thuẫn vợ chồng là thực tế và đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ. HĐXX cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Con chung của nguyên đơn và bị đơn là Trần Lê Minh A sinh ngày 05/5/2022, hiện đang sinh sống cùng nguyên đơn. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cũng có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con đến khi đủ tuổi trưởng thành.
Tòa án đã tiến hành xác minh tại Ban tự quản thôn 3, xã Krông Jing thể hiện bị đơn đang không có mặt tại địa phương. Ngoài ra, quá trình giải quyết vụ án cũng như xác minh tại nơi cư trú của nguyên đơn thể hiện nguyên đơn đủ điều kiện nuôi dưỡng con trưởng thành. Do vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tiếp tục giao con cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con. Do đó, HĐXX không đặt ra xem xét.
[3] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với số tiền 3.000.000 đồng. Xét thấy việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyên và đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, HĐXX đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu trên. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 227, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ thí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Lê Thị H được ly hôn với ông Trần Quốc D.
- Về con chung: Giao con Trần Lê Minh A sinh ngày 05/5/2022 cho bà Lê Thị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con thành niên (đủ 18 tuổi).
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
2. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con với số tiền 3.000.000 đồng. Nguyên đơn được quyền khởi kiện lại yêu cầu trên theo quy định tại Điều 218 của Bộ luật tố tụng dân sự.
3. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí nguyên đơn đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2023/0009011 ngày 12/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện M'Đrắk.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đặng Thị Thu Hà |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 30/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M'ĐRẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Lê Thị H và ông Trần Quốc D kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện M, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 16/5/2023. Tuy nhiên, trong thời gian chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, cãi vã và nhiều vấn đề khác không thể hòa hợp dẫn đến vợ chồng không cùng quan điểm sống. Nên giữa bà H và ông D đã sống ly thân được một thời gian. Nay bà Lê Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Trần Quốc D.
