Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ RIỀNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 23-7-2024

V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Tấn Trường

- Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Phạm Văn Khuyến
  • Ông Nguyễn Sỹ Luận

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Anh Đào -Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2023/TLST-HNGĐ ngày 15/11/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 10/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 24/QĐST-HNGĐ ngày 27/3/2024, giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Lê Thị S, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn 4, Xã L, Huyện P, Tỉnh Bình Phước. (vắng mặt, có đơn xin vắng)

+ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn 4, Xã L, Huyện P, Tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị S trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn Th tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau và đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân Xã L ngày 24/9/2010.

    Qúa trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp với nhau về tính cách, thường xuyên cãi nhau, dẫn đến vợ chồng không thể sống chung được nữa, hiện tại vợ chồng đang sống ly thân từ tháng 02/2023. Bà xác định cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không đạt được mục đích chung sống nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn Th.

  2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Lê Khánh V, sinh năm 2011, cháu Nguyễn Lê Thái H, sinh năm 2013, hiện các cháu đang sống chung với bà. Khi ly hôn bà đề nghị được trực tiếp nuôi hai cháu. Về cấp dưỡng bà và ông Th tự thỏa thuận.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Th trình bày:

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập làm việc nhưng ông Nguyễn Văn Th vẫn vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước phát biểu:

  • Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến khi xét xử sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, người tham gia tố tụng thực hiện đúng, đầy đủ quy định Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  • Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

  • Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị S. Về con chung thống nhất giao con chung cháu Nguyễn Lê Khánh V, cháu Nguyễn Lê Thái H cho bà S trực tiếp nuôi dưỡng; Cấp dưỡng không xem xét, giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung không yêu câu nên không xem xét giải quyêt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

    Bà Lê Thị S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn Th có nơi thường trú tại Thôn 4, Xã L, huyện P, tỉnh Bình Phước. Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng xác định quan hệ pháp luật của vụ án là “Ly hôn”. Căn cứ các Điều 28; 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51; 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

    Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị S vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn Th vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vẫn tiến hành xét xử vụ án.

  2. Về nội dung vụ án:

    • Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị S, Hội đồng xét xử nhận định:

      Quan hệ hôn nhân giữa bà S, ông Th là hôn nhân hợp pháp, có đăng ký kết hôn ngày 24/9/2010 tại UBND Xã L, Huyện B (nay là Huyện P) Tỉnh Bình Phước.

      Theo bà S, hôn nhân giữa bà với ông Th phát sinh mâu thuẫn. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã phân tích, giải thích cho bà S các hệ lụy, hậu quả xảy ra khi ly hôn để bà S đoàn tụ tiếp tục chung sống với ông Th. Tuy nhiên, bà S xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục duy trì đời sống hôn nhân với ông Th, bà S cương quyết đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Điều này cho thấy hôn nhân giữa bà S và ông Th đã trở lên trầm trọng, mục đích chung sống hạnh phúc không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà S, bà S được ly hôn với ông Th.

    • Về việc nuôi con chung:

      Vợ chồng có 02 con chung gồm cháu Nguyễn Lê Khánh V, sinh năm 2011, cháu Nguyễn Lê Thái H, sinh năm 2013. Khi cha mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Bà S yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung, quá trình giải quyết vụ án ông Th không có ý kiến, yêu cầu đối với các vấn đề bà S khởi kiện. Cả cháu V và cháu H hiện đang sống với bà S, và có nguyện vọng tiếp tục được ở với bà S. Do đó, để đảm bảo môi trường ổn định giúp cháu V, cháu H phát triển tốt về tâm sinh lý và đúng nguyện vọng của các cháu, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu V và cháu H cho bà S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp nên được chấp nhận.

      Về cấp dưỡng nuôi con chung: Qúa trình giải quyết, các bên đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

    • Về tài sản chung, nợ chung:

      Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Riềng tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  3. Về án phí sơ thẩm:

    Bà Lê Thị S phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28; 35; 39 và Điều 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các Điều 51; 53; 56, 80, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị S;

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Bà Lê Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn Th. Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị S và ông Nguyễn Văn Th chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con:

    Giao con chung cháu Nguyễn Lê Khánh V, sinh năm 2011, cháu Nguyễn Lê Thái H, sinh năm 2013 cho bà Lê Thị S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi hai cháu trưởng thành (đủ 18 tuổi).

    Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom hoặc cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Các bên có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

    Về cấp dưỡng nuôi con:

    Không xem xét, giải quyết.

  3. Về tài sản chung, nợ chung:

    Không xem xét, giải quyết.

  4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

    Bà Lê Thị S phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0016472 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Riềng, tỉnh Bình Phước.

  5. Quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Phú Riềng;
  • - THADS huyện Phú Riềng;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã L;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

ĐÃ KÝ

Đỗ Tấn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ RIỀNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger