TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ - ST Ngày: 23-5-2024 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ninh Khắc Phong
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Huy Hoàng
Ông Đỗ Mạnh Tường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bắc - Là thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 379/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2023, về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1988; địa chỉ: Số G N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Anh P, sinh năm: 1981; địa chỉ: Số G N, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 15/9/2023 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Anh P sau thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND phường L, thành phố B vào ngày 13/9/2010, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới. Trong quá trình chung sống vợ chồng cũng có thời gian hạnh phúc và có lúc mâu thuẫn, căng thẳng nhất là từ năm 2020 cho đến nay là mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P hay nhậu nhẹt, chơi bời bên ngoài xã hội, không quan tâm đến vợ con, có lần còn đánh vợ, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh P không thay đổi. Trước đây chị đã hai lần làm đơn ly hôn anh P gửi đến Tòa án nhưng sau khi được Tòa án phân tích, động viên và vì thương con cái nên chị rút đơn về để cho anh P cơ hội sửa đổi. Tuy nhiên anh P vẫn chứng nào tật ấy, không
1
chịu sửa đổi nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thêm. Hiện nay vợ chồng chị sống chung nhà nhưng mạnh ai người nấy sống, không còn quan tâm đến nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Anh P.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 người con chung là cháu Nguyễn Kim Như Q, sinh ngày 18/5/2013 và cháu Nguyễn Kim Bảo N, sinh ngày 04/7/2008. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung cho đến khi đủ 18 tuổi, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Vợ chồng chị không có nợ chung.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/02/2024, bị đơn anh Nguyễn Anh P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị D kết hôn theo quy định của pháp luật, trước khi kết hôn có thời gian tìm hiểu khoảng 05 tháng. Trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra một số vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh thường xuyên đi chơi, nhậu nhẹt, về cách làm ăn kinh tế. Vợ chồng thỉnh thoảng có cãi nhau, có lần anh lỡ tay đã tát chị D một cái. Nay tình cảm của anh vẫn còn, những mâu thuẫn có thể khắc phục được nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh có 02 người con chung là cháu Nguyễn Kim Như Q, sinh ngày 18/5/2013 và cháu Nguyễn Kim Bảo N, sinh ngày 04/7/2008. Trường hợp phải ly hôn thì con chung sẽ giải quyết theo nguyện vọng của các cháu.
Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Về nợ chung: Vợ chồng không có nợ chung.
Bị đơn anh Nguyễn Anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Mặt khác, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Anh P vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật; bị đơn anh Nguyễn Anh P không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị D được ly hôn với anh P; về con chung: giao cháu Nguyễn Kim N1 Q và cháu Nguyễn Kim Bảo N cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi, vấn đề cấp dưỡng nuôi con do không yêu cầu nên không đề cập đến; về tài sản chung: các bên không yêu cầu giải quyết nên không đề cập; về nợ chung: các bên không có nợ chung nên không xem xét đến. Về án phí: Chị D phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Anh P; bị đơn anh Nguyễn Anh p có địa chỉ cư trú tại phường L, thành phố B. Vì vậy, Tòa án xác định đây là tranh chấp về “Ly hôn” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Phiên tòa ngày 02 tháng 5 năm 2024, bị đơn anh Nguyễn Anh P đã được triệu tập hợp lệ theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để hoãn phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Nguyễn Thị D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Anh p đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai theo đúng quy định tại các Điều 175, 177, 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Anh P đã được UBND phường L, thành phố B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 143 vào ngày 13/9/2010, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, thời điểm đăng ký cả hai đều đủ điều kiện kết hôn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh P là hợp pháp.
Theo chị D, quá trình chung sống thì vợ chồng cũng có thời gian hạnh phúc và có lúc mâu thuẫn, căng thẳng nhất là từ năm 2020 cho đến nay là mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh P hay nhậu nhẹt, chơi bời bên ngoài xã hội, không quan tâm đến vợ con, có lần còn đánh vợ, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh P không thay đổi. Hiện nay vợ chồng chị sống chung nhà nhưng mạnh ai người nấy sống không còn quan tâm đến nhau.
Còn theo anh P thì trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra một số vấn đề mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh thường xuyên đi chơi, nhậu nhẹt, về cách làm ăn kinh tế. Vợ chồng thỉnh thoảng có cãi nhau, có lần anh lỡ tay đã tát chị D một cái.
Tòa án đã tiến hành xác minh chị Nguyễn Thị Bích D1 là cháu của anh P thì được biết: “Trong quá trình chung sống thì bà D và ông P xảy ra nhiều vấn đề mâu thuẫn, ông P thường xuyên uống rượu về chửi bà D, ông P không lo làm ăn,
3
toàn bộ công việc và kinh tế do mình bà D lo lắng. Thỉnh thoảng ông P còn nợ tiền bên ngoài, mỗi lần nợ tiền đều bắt bà D phải trả nợ. Bà D đã làm đơn ly hôn sau đó rút đơn về cho ông P nhiều cơ hội để sửa chữa sai lầm nhưng tính ông P vẫn vậy”.
Đối với anh P đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng để biết và đến Tòa án tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; các phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Điều đó đã thể hiện sự bỏ mặc, không còn thiết tha đến tình cảm vợ chồng.
Chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng giữa chị D và anh P là có xảy ra trên thực tế và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, khó hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D, cho chị D được ly hôn với anh P là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2] Về con chung: Chị D và anh P có 02 người con chung là cháu Nguyễn Kim Như Q, sinh ngày 18/5/2013 và cháu Nguyễn Kim Bảo N, sinh ngày 04/7/2008. Chị D thể hiện ý kiến được nuôi cả 02 con chung cho đến khi trưởng thành, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; anh P thể hiện ý kiến là trường hợp ly hôn sẽ tùy vào nguyện vọng của con.
Tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 7 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”. Các cháu Như Q và Bảo N đến nay đều đã trên 7 tuổi nên phải xem xét đến nguyện vọng của cháu. Tại bản tự khai ngày 22/3/2024, cháu Bảo N và cháu Như Q đều thể hiện nguyện vọng được ở với mẹ là chị Nguyễn Thị D.
Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành xác minh chị Nguyễn Thị Bích D1 là cháu của anh P thì được biết: “Hiện nay cả hai con chung đều ở với bà D, bà D đưa đón các cháu đi học và chăm lo cho các cháu”.
Do đó, cần giao cháu Bảo N và cháu Như Q cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng, quyền lợi mọi mặt của các cháu.
Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chị D không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
[2.3] Về tài sản chung: Chị D và anh P đều không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Chị D và anh P đều xác nhận vợ chồng không có nợ chung nên không xem xét, giải quyết.
[3] Về án phí: Buộc nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bị đơn anh Nguyễn Anh P không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.
4
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 36, khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 175, 177, 179, 205, 207, 220, 227, 228, 262 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 18, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị D đối với bị đơn anh Nguyễn Anh p.
Cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Anh p.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Kim Như Q, sinh ngày 18/5/2013 và Nguyễn Kim Bảo N, sinh ngày 04/7/2008 (Hiện đang do chị D nuôi dưỡng) cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con các bên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét đến.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp theo biên lai thu số 000951 ngày 15/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc (chị D đã nộp đủ). Anh Nguyễn Anh P không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ bản án các đương sự được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Khắc Phong |
5
Bản án số 21/2024/HNGĐ - ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC - TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị D xin ly hôn anh Nguyễn Anh P
