Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SẦM SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21/6/2024

V/v: “Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phong

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1 - Ông Bùi Ngọc Nam
  • 2 - Ông Nguyễn Hữu Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung - Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, không tham gia phiên tòa.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, Tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 17/6/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Anh Ngô Hữu M – Sinh năm 1974

    Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

  2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H – Sinh năm 1979

    Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa nguyên đơn, bị đơn vắng mặt. (Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 19 tháng 5 năm 2023 cũng như qua khai báo, nguyên đơn anh Ngô Hữu M, trình bày: Anh kết hôn với chị Nguyễn Thị H vào năm 1999 là do tự nguyện, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa vào tháng 3/2004. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, được khoảng 2 đến 3 năm đầu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung khiến vợ chồng thường xuyên cãi vã, không còn tình cảm và đã ly thân nhau từ năm 2007 cho đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H.

- Về con chung: Anh và chị H có một con chung là cháu Ngô Hữu D, sinh ngày 17/7/1999, hiện nay cháu đã thành niên và phat triển bình thường, nên anh không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về tài sản, công nợ: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Anh Ngô Hữu M khởi kiện chị Nguyễn Thị H là loại án: Ly hôn. Chị H có hộ khẩu thường trú tại phường Quảng Tiến, thành phố Sầm Sơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn và được tòa án thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Bị đơn chị Nguyễn Thị H đã được thông báo thụ lý vụ án và triệu tập đến tòa án làm việc vào các ngày 06/3 và ngày 14/3/2024, thủ tục triệu tập hợp lệ nhưng chị H không đến Tòa án làm việc, không có lý do của việc vắng mặt. Xét thấy vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tiến hành giao thông báo này đến các đương sự để làm việc vào ngày 22/5/2024 nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do, việc vắng mặt của chị H thuộc trường hợp cố tình trốn tránh. Vì vậy Tòa án quết định đưa vụ án ra xét xử và giao hợp lệ quyết định xét xử, nhưng chị H vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và mở lại phiên tòa lần thứ hai nhưng chị H vẫn vắng mặt không có lý do; Anh M có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh M, chị H là đúng với quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự.

[2]. Về tình trạng hôn nhân và yêu cầu xin ly hôn:

Anh Ngô Hữu M và chị Nguyễn Thị H kết hôn với nhau là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Q, vào tháng 03/2004. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả hai bên anh chị đều đủ tuổi kết hôn, không vi phạm điều 8 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, như vậy hôn nhân giữa anh M và chị H được công nhận là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc, được vài năm đầu thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do không hợp tính nhau, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vã, xô xát lẫn nhau, không tôn trọng nhau; Quá trình giải quyết vụ án, chị H không đến Tòa án làm việc, bỏ mặc với những yêu cầu của anh M. Xét thấy tình cảm vợ chồng của anh, chị không đáp ứng được với quy định tại khoản 3 Điều 2 về nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình và Điều 19 về tình nghĩa vợ chồng của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tình cảm giữa hai anh chị thực sự không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của anh M là đúng với quy định tại Điều 56 luật HNGĐ.

Về con chung: Anh M và chị H có một con chung là cháu Ngô Hữu D, sinh ngày 17/7/1999, hiện nay cháu đã thành niên và phat triển bình thường, nên anh không yêu cầu tòa án giải quyết, nên miễn xét.

Về tài sản, công nợ: Anh không yêu cầu tòa án giải quyết nên miễn xét.

[3]. Về án phí: Anh M thuộc trường hợp phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng DS và điểm a, khoản 5 Điều 27 nghị quyết số 326 về án phí lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 BLTTDS.

- Căn cứ vào điểm a khỏan 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí toà án.

- Về hôn nhân. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh M. Anh Ngô Hữu M được ly hôn chị Nguyễn Thị H.

- Về án phí: Anh Ngô Hữu M phải nộp 300 000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh M đã nộp theo biên lai kí hiệu: BLTU/23 số 0004757, ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án DS thành phố Sầm Sơn (anh M đã nộp đủ tiền án phí).

Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt các đương sự;

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. Sầm Sơn;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Chi cục THADS TP. Sầm Sơn;
  • - UBND phường Q;
  • - Lưu HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lê Thị Phong

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T/C HNGĐ (Ngô Hữu M 0- Nguyễn Thị H)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger