TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST | Ngày: 16.5.2024 |
V/v “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con” | |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Ngọc Kinh Luân
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đặng Công Tâm
2. Ông Phạm Công Lương
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án của Toà án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ly Na – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 03 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2024/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Trần Đoàn Khánh L – Sinh năm 1997. Địa chỉ: K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, có đơn xin xét xử vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Tuấn A – Sinh năm 1994. Địa chỉ: K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng, ( vắng mặt hai lần không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là bà Trần Đoàn Khánh L trình bày:
Bà và ông Nguyễn Tuấn A kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống tại nhà số K đường T, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Nguyên nhân chính là do mâu thuẫn về kinh tế, ông Tuấn A không có trách nhiệm về tài chính đối với vợ con mặc dù bà L đã bỏ ra một số vốn lớn để ông Tuấn A đầu tư kinh doanh nhưng ông Tuấn A liên tục làm ăn thua lỗ, không có trách nhiệm lo cuộc sống của vợ con, cuộc sống chung không có hạnh phúc và cũng vì lý do này mà vợ chồng đã sống ly thân từ lâu. Nay bà Trần Đoàn Khánh L xác định hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà Khánh L yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A.
- Về con chung: Bà Trần Đoàn Khánh L xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày 23/12/2019 và Nguyễn Trần Khả N, sinh ngày 26/6/2022. Khi ly hôn, bà Khánh L có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu và yêu cầu ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi hai con 10.000.000/tháng
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Thị Khánh L1 xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Nguyễn Tuấn A tham gia tố tụng để giải quyết vụ án nhưng ông Tuấn A đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn là bà Trần Đoàn Khánh L có đơn xin xét xử vắng mặt là hợp lệ. Riêng bị đơn là ông Nguyễn Tuấn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt. Về nội dung, đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Đoàn Khánh L về việc ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A; Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày 23/12/2019 và Nguyễn Trần Khả N, sinh ngày 26/6/2022 cho bà Trần Đoàn Khánh L nuôi dưỡng; tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về thủ tục tố tụng: Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn là ông Nguyễn Tuấn A có nơi cư trú tại quận H, thành phố Đà Nẵng nên vụ án do Tòa án nhân quận Hải Châu thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Nguyễn Tuấn A đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Do đó, HĐXX căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với ông Nguyễn Tuấn A.
[2] Về nội dung :
2.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Đoàn Khánh L và ông Nguyễn Tuấn A tự nguyện kết hôn vào năm 2019, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng (Giấy chứng nhận kết hôn số 132/2019, ngày 05/12/2019). Hôn nhân giữa bà Trần Đoàn Khánh L và ông Nguyễn Tuấn A đảm bảo các điều kiện cũng như thủ tục theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà Trần Đoàn Khánh L kiên quyết xin ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A. Căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Trong quá trình chung sống, bà Khánh L và ông Nguyễn Tuấn A đã phát sinh mâu thuẫn từ nhiều năm, giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã nhau. Nguyên nhân chủ yếu bất đồng về kinh tế gia đình Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hòa giải không có kết quả mà ngày càng gay gắt, thực tế cả hai đều đã sống ly thân nhau. Nay, bà Khánh L xác định không còn tình cảm với ông Tuấn A, hạnh phúc gia đình không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A
Xét thấy hôn nhân giữa bà Trần Đoàn Khánh L và ông Nguyễn Tuấn A đã thực sự mâu thuẫn trầm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Tuấn A vẫn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến, thể hiện việc ông Tuấn A không có thiện chí hàn gắn cuộc hôn nhân với bà L. Xét thấy đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Trần Đoàn Khánh L được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A.
2.2. Về con chung: Bà Trần Đoàn Khánh L xác định bà và ông Nguyễn Tuấn A có 02 con chung là Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày 23/12/2019 và Nguyễn Trần Khả N, sinh ngày 26/6/2022. Khi ly hôn, bà Khánh L có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai cháu. Xét thấy, thực tế kể từ thời điểm ông Tuấn A và bà Khánh L sống ly thân cho đến nay, các con chung được bà Khánh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án ông Tuấn A cũng không thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung nên cần áp dụng các Điều 81,82, 83 Luật Hôn nhân gia đình giao hai con chung cho bà Trần Đoàn Khánh L trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án Bà Trần Đoàn Khánh L thay đổi ý kiến không yêu cầu ông Nguyễn Tuấn A cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không đề cập giải quyết.
2.3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Đoàn Khánh L xác nhận không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời xác định vợ chồng không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Trần Đoàn Khánh L phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Đoàn Khánh L đối với ông Nguyễn Tuấn A. Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Bà Trần Đoàn Khánh L được ly hôn với ông Nguyễn Tuấn A.
- Về quan hệ con chung: Xử giao 02 con chung là Nguyễn Trần Minh K, sinh ngày 23/12/2019 và Nguyễn Trần Khả N, sinh ngày 26/6/2022 cho bà Trần Đoàn Khánh L trực tiếp nuôi dưỡng.
- Ông Nguyễn Tuấn A không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con
Sau khi ly hôn, các bên đương sự vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bên không nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Khi cần thiết vì lợi ích con chung các bên có quyền làm đơn xin thay đổi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trần Đoàn Khánh L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng bà Trần Đoàn Khánh L phải chịu, nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Khánh L đã nộp theo biên lai thu số 0002597 ngày 09 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trần Đoàn Khánh L, ông Nguyễn Tuấn A vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Ngọc Kinh Luân |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”
