|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 15-4-2024
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
về ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Hùng
Bà Nguyễn Thị Nhàn
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.
Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân Thành phố Sa Đéc tham gia phiên tòa:
Ông Lê Tiến Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 375/2023/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q, sinh năm 2000 (Có mặt);
Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
Bị đơn: Anh Nguyễn Sơn T, sinh năm 1991 (Có mặt);
Địa chỉ: Số C khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q trình bày:
Chị Q và anh T có tự tìm hiểu nhau khoảng 01 năm trước khi sống chung vợ chồng vào năm 2020, gia đình có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn ngày 23/3/2020 tại UBND xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian đến tháng 01 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn tình cảm, nên khi chị Q có thai khoảng 6 tháng đã bỏ về nhà cha mẹ ở xã T, huyện C sinh sống và sinh con, hiện vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm nay.
Nay chị Q nhận thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, không thể hàn gắn được, tình cảm đối với anh T không còn nên chi Q yêu cầu ly hôn anh T. Trường hợp Tòa án giải quyết không cho ly hôn thì chị Q cũng không về chung sống với anh T vì chị Q không còn tình cảm với anh T và vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn.
- - Về nuôi con chung: Có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 04/6/2021, hiện con chung đang sống với chị Q. Khi ly hôn chị Q yêu cầu được nuôi dưỡng con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về chia tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
Ngoài ra, chị Q không còn yêu cầu gì khác.
* Quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Sơn T trình bày:
Về thời gian tìm hiểu, sống chung vợ chồng, đăng ký kết hôn và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn dẫn đến việc vợ anh xin ly hôn như chị Q trình bày anh T thống nhất. Anh T trình bày hiện vợ chồng đã không còn chung sống thời gian đã 5 tháng nay, nhưng anh T thỉnh thoảng vẫn chạy qua lại thăm con. Hiện tình cảm anh T vẫn còn thương vợ con, nhưng anh T không có biện pháp nào để cho vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn. Nay anh T không đồng ý ly hôn chị Q.
Trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh T đồng ý để chị Q nuôi con chung Nguyễn Ngọc Thiên K (hiện đang sống với chị Q), anh T không cấp dưỡng nuôi con.
Về nợ chung, tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử (HĐXX), Thư ký phiên tòa cũng như các đương sự đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
- - Về hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh T đã trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân thời gian đã lâu. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Q.
- - Về nuôi con chung: Đề nghị HĐXX giao con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 04/6/2021, cho chị Q nuôi dưỡng (Hiện con chung đang sống với chị Q). Chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
- Về chia tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc Q khởi kiện yêu cầu ly hôn, do đó HĐXX xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn”. Hiện nay anh T cư trú tại số C khóm T, phường T, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).
[2] Về quan hệ hôn nhân:
[2.1] Chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Nguyễn Sơn T chung sống vợ chồng từ năm 2020, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/3/2020 tại UBND xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa chị Q và anh T được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống giữa chị Q và anh T thời gian đầu sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến khoảng đầu năm 2021 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do vợ chồng không có sự đồng cảm, không hợp nhau, từ đó vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm, không còn tình cảm, nên khi chị Q có thai khoảng 6 tháng đã bỏ về nhà cha mẹ ở xã T, huyện C sinh sống và sinh con, hiện vợ chồng đã ly thân hơn 02 năm nay. Hiện vợ chồng mỗi người có cuộc sống riêng, không con quan tâm, chăm sóc cho nhau. Theo chị Q, trường hợp Tòa án giải quyết không cho ly hôn thì chị Q cũng không về chung sống với anh T vì chị Q không còn tình cảm với anh T và vợ chồng có nhiều mâu thuẫn không thể hàn gắn.
[2.2] Đối với anh T cũng thừa nhận rằng hiện mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng, hiện vợ chồng đã không còn chung sống, anh T cũng kêu chị Q về chung sống nhưng chị Q không đồng ý. Hiện tình cảm anh T vẫn còn thương vợ con, nhưng anh T không có biện pháp nào để cho vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn, anh T thỉnh thoảng vẫn chạy qua lại thăm con.
[2.3] Tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được...”.
HĐXX xét thấy hiện vợ chồng chị Q và anh T đã không còn chung sống thời gian hơn 2 năm, cả hai không còn quan tâm, chăm sóc lo lắng cho nhau. Quá trình thụ lý, giải quyết và tại phiên tòa, HĐXX cũng đã động viên chị Q hàn gắn tình cảm, đoàn tụ vợ chồng, nhưng chị Q vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn anh T.
Từ đó cho thấy tình cảm vợ chồng giữa chị Q, anh T đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc nhau. Nếu chị Q, anh T đoàn tụ tiếp tục chung sống thì cũng không có hạnh phúc. Do đó, xét thấy việc chị Q yêu cầu được ly hôn anh T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống chị Q, anh T có 01 con chung: Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 04/6/2021, hiện con chung đang sống với chị Q. Trường hợp ly hôn, chị Q yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh T cấp dưỡng; đối với anh T trình bày trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh T đồng ý để chị Q nuôi con chung Nguyễn Ngọc Thiên K (Hiện đang sống với chị Q), anh T không cấp dưỡng nuôi con.
HĐXX thấy rằng hiện cháu Nguyễn Ngọc Thiên K còn nhỏ, đang sống với chị Q. Do đó giao cháu Nguyễn Ngọc Thiên K cho chị Q được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng như ý kiến thống nhất thỏa thuận giữa chị Q và anh T. Anh T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con, không ai được quyền cản trở.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Q không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con khi ly hôn, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về chia tài sản chung, nợ chung: Chị Q và anh T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Q phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) theo quy định của pháp luật.
[7] Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sa Đéc, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc Q. Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Ngọc Q và anh Nguyễn Sơn T.
- Về nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ngọc Q về việc yêu cầu nuôi con chung:
Giao cho chị Nguyễn Thị Ngọc Q được quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Nguyễn Ngọc Thiên K, sinh ngày 04/6/2021 (Hiện con chung đang sống với chị Q).
Anh Nguyễn Sơn T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom, chăm sóc con không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc Q nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn). Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị Q đã nộp ngày 11/12/2023 theo biên lai thu số 0003842 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp, được khấu trừ toàn bộ vào án phí phải nộp.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Minh Trí |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
