|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 9 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Nguyễn Thị Hoa
2. Bà Nguyễn Thị Giang
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 115/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18A/2024/QĐXX-ST ngày 14 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hương G, sinh năm1983;
Địa chỉ: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Bị đơn:Anh Nguyễn Tiến D, sinh năm1985;
Địa chỉ: Khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hương G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hương G và anh Nguyễn Tiến D yêu thương nhau tự nguyện và đăng ký kết hôn ngày 02/06/2006 tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc tại khu A, xã P, huyện P, Phú Thọ. Trong quá trình chung sống đến tháng 8 năm 2020, thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hòa hợp được, lý do mâu thuẫn là do anh D ngoại tình. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể sống chung nên chị làm đơn xin ly hôn với anh D.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hương G xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017. Khi ly hôn chị G đề nghị được nuôi cả 02 cháu là Nguyễn Vũ D1 và Nguyễn Nhật H, anh Nguyễn Tiến D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị G tự nguyện không yêu cầu
Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn là anh Nguyễn Tiến D vắng mặt:
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D vắng mặt không có lý do. Ngày 29/7/2024, Tòa án tiến hành xác minh tại nơi cư trú của anh D được đại diện chính quyền địa phương cho biết: Chị Nguyễn Thị Hương G và anh Nguyễn Tiến D sau khi kết hôn chung sống tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Đại diện khu dân cư cho biết quá trình chung sống, chị G và anh D phát sinh nhiều mâu thuẫn nhưng nguyên nhân cụ thể như thế nào thì không nắm rõ. Hiện nay, anh D không thường xuyên có mặt ở nhà, thỉnh thoảng có về, khi về thì thường ở lại nhà ông T, bà A (là chú thím anh D) và nhà chị G một hai hôm rồi lại đi. Hiện nay, anh D đang ở đâu và làm gì khu dân cư cũng không biết do anh D không báo cáo lại. Chị G và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017 đang ở cùng với chị G.
Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh tiến hành lấy lời khai của bà Nguyễn Thị A là thím của anh Nguyễn Tiến D, ở cạnh nhà anh D. Bố đẻ anh D đã chết, mẹ đẻ anh D đi trông cháu ở Hà Nội thỉnh thoảng mới về. Bà có được chứng kiến việc chị G và anh D sau khi đăng ký kết hôn về chung sống tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Chị G và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017. Quá trình chung sống chị G và anh D phát sinh nhiều mâu thuẫn, cãi chửi nhau, gia đình cũng đã hòa giải giữa hai vợ chồng nhiều lần nhưng không thành. Anh D2 cũng không thường xuyên có mặt ở nhà, thỉnh thoảng mới về, khi về thường ở lại nhà bà một hai hôm rồi lại đi. Hiện nay bà cũng không biết anh D2 đang ở đâu và làm gì. Khi Tòa án gửi giấy báo về cho anh D2, bà A đã nhận hộ và thông báo cho anh D2 biết nhưng anh D2 không về. Nay chị G xin ly hôn với anh D2 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự tuy nhiên chưa thực hiện việc gửi đơn khởi kiện cùng các tài liệu kèm theo cho bị đơn. Đối với bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự do vắng mặt không có lý do tại tất cả các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hương G
- - Về quan hệ hôn nhân: cho chị Nguyễn Thị Hương G được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.
- - Về con chung: Giao cho chị G được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017. Anh Nguyễn Tiến D không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị G tự nguyện không yêu cầu.
- - Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp: Không xem xét giải quyết trong vụ án này.
- - Về án phí: Chị G phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét về sự vắng mặt của anh Nguyễn Tiến D, Hội đồng xét xử thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án,Tòa án đã triệu tập hợp lệ anh D3 để làm việc, nhưng anh D vẫn vắng mặt, không đến Tòa án để làm việc. Hơn nữa chị G đã có đơn không tiến hành hòa giải cho nên Tòa án không tiến hành hòa giải được là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 29/8/2024, Tòa án đưa vụ án ra xét xử đã tiến hành giao giấy báo trực tiếp tại nơi cư trú của anh D tuy nhiên anh D vắng mặt cho nên Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết hợp lệ nhưng anh D vẫn vắng mặt tại phiên xét xử lần thứ nhất không có lý do nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa. Sau khi hoãn phiên tòa, đã niêm yết hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa tại nơi cư trú của anh D. Tại phiên tòa hôm nay anh D vắng mặt không có lý do, chị G có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Nguyễn Tiến D là phù hợp theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hương G và anh Nguyễn Tiến D đăng ký kết hôn ngày 02/06/2006 tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn hai bên được tìm hiểu tự nguyện không ai bị ép buộc. Việc kết hôn giữa chị G và anh D bảo đảm các quy định về điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấp kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên đó là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân theo lời trình bày của chị G là hai bên khác biệt về quan điểm sống và anh D ngoại tình. Còn anh D quá trình giải quyết vụ án tuy đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không hợp tác làm việc, cũng không có quan điểm gì để cải thiện cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, như vậy anh D đã thể hiện không cần mối quan hệ hôn nhân này nữa.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hương G, Hội đồng xét xử thấy rằng: Giữa chị G và anh D đã xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là theo lời trình bày của chị G là hai bên khác biệt về quan điểm sống. Qua xác minh tại khu dân cư và gia đình cũng thể hiện chị G và anh D có nhiều mâu thuẫn, cãi chửi nhau, gia đình cũng đã hòa giải giữa hai vợ chồng nhiều lần nhưng không thành, hai bên không liên lạc với nhau, thực tế không còn chung sống cùng nhau. Như vậy, có thể khẳng định vợ chồng chị G và anh D4 mâu thuẫn. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị G là có căn cứ vì cuộc sống chung giữa chị G và anh D không có hạnh phúc, mâu thuẫn đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không còn tồn tại, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần xử cho chị G được ly hôn anh D là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hương G xác nhận chị và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị G xin được nuôi 02 con chung và không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con chung; 02 con chung cũng có nguyện vọng ở với chị G.
Xét yêu cầu xin được nuôi con của chị G và nguyện vọng của 02 con chung là chính đáng vì anh D đi vắng xa nhà và không thường xuyên có trách nhiệm với con chung. Vì vậy cần giao 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh D5 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị G do chị G tự nguyện không yêu cầu.
- Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Vì anh D vắng mặt không có quan điểm và chị G xác định vợ chồng không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Chị G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hương G.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Hương G được ly hôn với anh Nguyễn Tiến D.
2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị Hương G trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là cháu Nguyễn Vũ D1, sinh ngày 17/5/2007 và cháu Nguyễn Nhật H, sinh ngày 15/7/2017, anh D không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị G tự nguyện không yêu cầu
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hương G phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị G đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số BLTU/2023/0001270 ngày 09/7/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thị Thanh Huyền |
Bản án số 21/2024/HNGĐ-ST ngày 13/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị G xin ly hôn anh D
