|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 18 - 6 -2024
V/v tranh chấp chia tài sản sau
khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Bùi Ngọc Thạch. |
| Các Thẩm phán: | Bà Nguyễn Ngọc Mai; |
| Ông Huỳnh Văn Luật. |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 và 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 74/2023/TLPT-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 52/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 20/2024/QĐ-PT ngày 24 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Ngọc L, sinh năm 1981; địa chỉ: khu phố C, thị trấn L, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Hoàng Việt H – Luật sư Công ty L4 – Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Tầng G, số D, đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Bị đơn: Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1977; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971; địa chỉ: ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Phan Thị T1, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Lê Thị H2, sinh năm 1984; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Đặng Thị D, sinh năm 1933; đăng ký thường trú: thôn T, thị xã N, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Lê Văn T2, sinh năm 1964; địa chỉ: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; có mặt
- Cháu Lê Thị Anh T3, sinh năm 2008; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của cháu T3: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971 và ông Lê Văn T2, sinh năm 1964; cùng nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo pháp luật (cha, mẹ của cháu T3); vắng mặt
Người kháng cáo bà Ngô Thị Ngọc L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bà L tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Mạnh C trình bày:
Bà L và ông N là vợ chồng, sống chung từ năm 1999 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương vào ngày 23 tháng 12 năm 2000. Đến ngày 18 tháng 11 năm 2014, bà L và ông N ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 131/2014/QÐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Năm 1999, bà L và ông N nhận chuyển nhượng của ông Lê Ngọc L1 phần đất diện tích 250m², thửa số 17, tờ bản đồ số 13 tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Việc chuyển nhượng bà L không rõ vì bà đi làm công nhân, không trực tiếp tham gia giao dịch, bà L có đưa cho ông N 04 chỉ vàng mượn của mẹ ruột bà L để mua đât.
Hiện trạng đất khi ông N nhận chuyển nhượng của ông L1 là đất trống. Khoảng cuối năm 1999 đầu năm 2000, bà L đưa cho ông N thêm 03 chỉ vàng mua vật liệu xây dựng nhà cấp bốn nhỏ (hiện nay đã được sửa chữa một phần). Bà L và
3
ông N sinh sống tại nhà mẹ đẻ của bà Liên T4 khi kết hôn đến khi ly hôn. Bà L và ông N không sinh sống tại phần đất đang tranh chấp, do khi xây nhà xong bà Nguyễn Thị H1 là chị gái của ông N về sống trong nhà xây trên đất ông N nhận chuyển nhượng của ông L2. Sau đó, ông Lê Văn T2 và bà Lê Thị H2 là anh ruột và chị dâu của ông N đến sống trên đất, năm 2004 ông T2 bà H2 ly hôn, bà H2 đi nơi khác sinh sống. Ông Lê Văn T2 kết hôn với vợ sau là bà Phan Thị T1 và tiếp tục sinh sống trên đất cho đến nay.
Ngày 19 tháng 6 năm 2001, ông N được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00136 QSDĐ/QQĐ-UB ngày 19 tháng 6 năm 2001 cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Bá N. Tại thời điểm ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà L có chung hộ khẩu với ông N hay không thì bà L không nhớ rõ.
Bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Bà L yêu cầu được chia một nửa tài sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Bà L yêu cầu được nhận bằng hiện vật và đồng ý hoàn lại giá trị bằng tiền khoảng 750.000.000 đồng (B trăm năm mươi triệu đồng) cho ông N.
- - Đối với tài sản gắn liền với đất là căn nhà trên thửa đất số 17, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Bà L yêu cầu được chia một nửa giá trị căn nhà và yêu cầu được nhận bằng hiện vật. Bà L đồng ý hoàn lại cho ông N giá trị bằng tiền khoảng 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).
Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Bá N trình bày:
Năm 1998, ông N từ tỉnh Thanh Hóa vào tỉnh Bình Dương lập nghiệp và ở nhờ nhà anh, chị ruột của ông N là bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn T trên phần đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Nguồn gốc phần đất này là do ông T, bà G nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn T5 nhưng chưa sang tên.
Do phía trước phần đất của ông Nguyễn Văn T, bà G là nhà của ông Kim Văn V (có vợ là bà S) chăn nuôi heo, nước thải chăn nuôi chảy xuống phần đất của ông Nguyễn Văn T, bà G. Vì vậy, ông V, bà S có đề nghị đổi phần đất của ông V, bà S nhận chuyển nhượng của ông Lê Ngọc L1 (phần đất đang tranh chấp) cho ông T, bà G, ông T, bà G đồng ý đổi đất, thủ tục giấy tờ để sang tên do ông Vũ T6 làm.
Tháng 02 năm 1998, ông Nguyễn Văn T đi nghĩa vụ quân sự không thể về nhà ký hợp đồng chuyển nhượng, đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được, nên ông Nguyễn Văn T nhờ ông N đứng ra ký hợp đồng chuyển nhượng và đứng tên giùm trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. Sau này, ông T đi nghĩa vụ quân sự về ông N sẽ sang tên lại cho ông T. Ngày 16 tháng 12 năm 1999, ông N làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 13 tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương với diện tích 256,9 m², nguồn gốc sang nhượng của ông Lê Ngọc L1. Đến ngày 19 tháng 6 năm 2001, ông N được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00136 QSDĐ/QĐ-UB cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Bá N. Thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N, hộ gia đình của ông N gồm có:
4
bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn T và ông N. Năm 2000, ông N mới đăng ký kết hôn với bà L tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B (nay là huyện B), tỉnh Bình Dương. Tại thời điểm ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có bà L trong sổ hộ khẩu. Khoảng một năm sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N xin tách khẩu ra khỏi sổ hộ khẩu của bà Nguyễn Thị H1 và đứng tên chủ hộ riêng trên sổ hộ khẩu khác. Khi đó, ông N mới nhập tên của bà L vào chung sổ hộ khẩu của ông N (có mối quan hệ với chủ hộ là vợ). Ông N khẳng định bà L không liên quan đến đất tranh chấp.
Khi đổi đất, phần đất của ông V là đất trống. Cuối năm 1998 đầu năm 1999, ông Nguyễn Văn T và bà G thuê ông H3 xây căn nhà cấp bốn trên đất. Sau khi xây nhà xong, bà G lấy chồng đi nơi khác sinh sóng, không ở trên đất, chỉ có cha của ông N (ông Nguyễn Bá D1), ông N và ông Nguyễn Văn T sinh sống. Năm 2000, ông N kết hôn với bà L, về sinh sống tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương trên phần đất của mẹ đẻ bà L cho. Ông N và bà L không sinh sống trên phần đất đang tranh chấp. Từ khi ông N về sinh sống tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương thì trên phần đất tranh chấp chỉ có ông Nguyễn Văn T sinh sống. Sau này, ông Nguyễn Văn T kết hôn thì có vợ ông T cùng các con sinh sống.
Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà L, ông N không đồng ý, quyền sử dụng đất đang tranh chấp không phải là tài sản chung được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa ông N và bà L.
Tại bản tự khai, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị G và ông Nguyễn Văn T trình bày:
Bà H1, bà G và ông Nguyễn Văn T là anh, chị ruột của ông N. Phần đất bà L đang tranh chấp với ông N có nguồn gốc như sau:
Năm 1996, bà G và ông Nguyễn Văn T cùng góp tiền để nhận chuyển nhượng đất của bà Trần Thị D2 diện tích khoảng 1000 m², (chiều ngang 30 mét, chiều dài 35 mét) với giá 8 chỉ vàng. Khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà D2, bà G và ông T chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất bà G và ông T nhận chuyển nhượng ở phía phần đất của ông V, bà S. Do ông V, bà S chăn nuôi gia súc, nước thải chảy ra trên phần đất của bà G và ông T, nên ông V có đề xuất đổi cho bà G và ông T một phần đất của ông V, bà S chuyển nhượng của ông Lê Ngọc L1 nhưng chưa sang tên. Đổi lại ông V sẽ lấy phần đất của bà G và ông T. Ông V, bà S chịu toàn bộ chi phí làm giấy tờ.
Năm 1998, bà G đi lấy chồng đi nơi khác sinh sống, ông T đi bộ đội nên thống nhất để ông N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau này, ông T đi bộ đội về ông N có trách nhiệm làm thủ tục sang tên lại cho ông T. Khi đổi đất với ông V, bà S các bên thoả thuận ông V, bà S xây 02 gian nhà cấp bốn cho gia đình của ông T, bà G có chỗ ở. Năm 2000, ông N và bà Liên kết H4 chuyển về sinh sống tại nhà của mẹ đẻ bà L tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Năm 2000, ông T đi bộ đội về kết hôn với bà H2 và sinh sống trực tiếp trên phần đất đang tranh chấp này và có sửa chữa thêm các tài sản trên đất. Năm 2004, ông T ly hôn với bà H2 và kết hôn với bà T1 và có sửa chữa căn nhà trên đất chi phí khoảng 100.000.000 đồng.
5
Bà L khởi kiện ông N về việc tranh chấp về chia tài sản chung sau khi ly hôn thì bà G, bà H1 và ông T không có ý kiến, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông T không có yêu cầu độc lập trong vụ án này đối với phần ông T đã sửa chữa các tài sản trên đất.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị H2 trình bày:
Bà H2 và ông Nguyễn Văn T là vợ chồng có đăng ký kết hôn vào năm 2002 nhưng đã ly hôn vào năm 2007. Bà H2 sinh sống cùng với ông Nguyễn Văn T trên phần đất đang tranh chấp đến năm 2007. Trong quá trình sống chung cùng với ông Nguyễn Văn T, ông N và bà L có đến đòi nhà và đất để chuyển về sinh sống nhưng do bà H2 và ông Nguyễn Văn Thanh T không có chỗ ở nên xin ở lại. Ông N và bà L sinh sống tại nhà mẹ đẻ của bà L tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Khi bà H2 và ông T về sinh sống tại phần đất đang tranh chấp thì đã có sẵn 01 phòng ngủ và 01 phòng khách. Bà H2 và ông T có xây thêm 01 phòng ngủ, chi phí xây dựng thêm khoảng 4.000.000 đồng. Nay bà L khởi kiện ông N về chia tài sản chung sau khi ly hôn thì bà H2 không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Đặng Thị D trình bày:
Bà D là mẹ ruột của ông N, ông Nguyễn Văn T, bà G và bà H1. Bà D mới sinh sống trên phần đất đang tranh chấp vào từ năm 2021. Về tài sản đang tranh chấp giữa bà L và ông N thì bà D không có công sức đóng góp. Bà D không có ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà L đối với ông N.
Tại đơn trình bày ngày 28 tháng 11 năm 2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Phan Thị T1 trình bày:
Bà T1 là vợ của ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn vào năm 2011. Khi bà T1 kết hôn chuyển về sinh sống với ông T tại phần đất đang tranh chấp thì đã có sẵn nhà. Bà T1 và ông T có sửa chữa lại nhà, chi phí khoảng 100.000.000 đồng. Nay bà L khởi kiện ông N về việc tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn thì bà H2 không có ý kiến và cũng không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Lê Văn T2 trình bày:
Ông Lê Văn T2 là chồng của bà H1. Năm 2005, ông T2 và bà H1 kết hôn nên ông T2 nhập hộ khẩu chung vào sổ hộ khẩu của bà H1. Đối với phần đất bà L đang tranh chấp với ông N thì ông T2 không có công sức đóng góp. Ông T2 không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà L với ông N.
Tại Bản tự khai ngày 22 tháng 5 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lê Thị Anh T3 trình bày:
Cháu T3 là con của bà H1 và ông Lê Văn T2. Cháu T3 không có công sức đóng góp đối với phần đất đang tranh chấp và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.
6
Tại Bản tự khai ngày 17 tháng 02 năm 2023 người làm chứng ông Trần Văn T5 trình bày:
Ông T5 là con của bà Trần Thị D2. Năm 1988, bà D2 có nhận chuyển nhượng phần đất toạ lạc tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Đất bà D2 nhận chuyển nhượng có vị trí tiếp giáp phía sau đất của ông V, bà S. Năm 1995, gia đình ông T5 sang nhượng lại quyền sử dụng đất này cho bà G và ông Nguyễn Văn T. Do gia đình của ông V, bà S chăn nuôi gia súc, nước thải ô nhiễm nên ông V, bà S đổi đất cho bà G, ông T phần đất ông V nhận chuyển nhượng của ông L1. Ngoài ra, ông T5 không biết thông tin gì thêm.
Tại Bản tự khai ngày 17 tháng 02 năm 2023 người làm chứng ông Hứa Văn V1 trình bày:
Khoảng năm 1997, 1998, ông V1 có trao đổi quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn T và bà G. Phần đất ông V1 nhận trao đổi là phần đất ông T và bà G đã nhận chuyển nhượng có vị rí tiếp giáp phía sau đất của ông V1. Đổi lại ông T, bà G nhận lại của ông V1 là phần đất ông V1 nhận chuyển nhượng của ông Út L3 nhưng chưa sang tên. Ngoài trao đổi quyền sử dụng đất ra thì ông V1 còn phải xây dựng một căn nhà cấp bốn gồm 02 phòng để ông T, bà G có nơi sinh sống. Phần đất ông V1 nhận chuyển nhượng của ông L3 tại thời điểm trao đổi đất thì ông V1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ngọc L đối với ông Nguyễn Bá N về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023 của nguyên đơn bà Ngô Thị Ngọc L kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Luật sư Hoàng Việt H, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: bà L khai chung sống với ông N vào năm 1999, ông N khai chung sống với bà Liên từ năm 2000. Các bản án sơ thẩm và phúc thẩm trước đây về chia tài sản chung của vợ chồng xác định ông N, bà L sống chung từ năm 1999, đây là chứng cứ không cần chứng minh. Bà L là người đưa 04 chỉ vàng (mượn của mẹ ruột) cho ông N để mua đất. Ông N cho rằng ông Nguyễn Văn T đổi đất với ông V1 nhưng không có chứng cứ chứng minh. Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là người có quan hệ họ hàng với ông N nên không khách quan. Từ những vấn đề trên, thấy lời khai của các bên có nhiều mâu thuẫn. Đất tranh chấp liên quan đến ông L3 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không làm việc với ông L3 và gia đình ông L3 để làm rõ bản chất của vụ án. Về việc xây dựng nhà ở
7
trên đất, lời khai của các bên có nhiều mâu thuẫn nhưng không được đối chất. Về việc xác định tài sản hộ gia đình: Công an có xác định hộ khẩu vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định ông N là người đứng tên giùm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Những người tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguồn gốc đất ông N ông N được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 17 tờ bản đồ số 13 có số vào sổ 00136 QSDĐ/QĐ-UB cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Bá N. Vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N là thành viên trong hộ khẩu của bà Nguyễn Thị H1 từ ngày 20 tháng 02 năm 1998 đến ngày 15 tháng 3 năm 2006, ông N làm đơn xin tách hộ về ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Như vậy, tại thời điểm ông N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Bá N gồm các thành viên sau: Bà Nguyễn Thị H1 (chủ hộ), bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn T, ông Nguyễn Bá N. Tài sản bà L tranh chấp không phải là tài sản chung của bà L, ông N tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà L làm trong thời hạn luật định nên hợp lệ và được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương bị bà Ngô Thị Ngọc L kháng cáo. Kháng cáo của bà L yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm chia tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 17 tờ bản đồ số 13, số vào sổ 00136 QSDĐ/QĐ-UB cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Bá N do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B) cấp ngày 19 tháng 6 năm 2001.
Căn cứ vào đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Bá N (bút lục số 100) ngày 16 tháng 12 năm 1999, ông N xin đăng ký quyền sử dụng đất diện tích 256,9 m² tọa lạc tại ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Ngày 19 tháng 6 năm 2001, ông N được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện B) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 13, số vào sổ 00136 QSDĐ/QĐ-UB cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Bá N. Vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông N là thành viên trong hộ khẩu của bà Nguyễn Thị H1 từ ngày 20 tháng 02 năm 1998. Đến ngày 15 tháng 3 năm 2006, ông N làm đơn xin tách hộ về ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Như vậy, tại thời điểm ông N được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hộ ông Nguyễn Bá N gồm các thành viên: Bà Nguyễn Thị H1 (chủ hộ), bà Nguyễn Thị G, ông Nguyễn Văn T, ông
8
Nguyễn Bá N. Ông N khai ông đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giùm ông Nguyễn Văn T, bà G. Lời khai của ông N phù hợp với lời khai của các đương sự khác trong vụ án như ông Nguyễn Văn T, bà G, bà H1 và người làm chứng ông V1, ông T5.
Về quá trình quản lý, sử dụng đất: bà L và ông N thừa nhận khi bà L và ông N kết hôn vào ngày 23 tháng 12 năm 2000, sau khi kết hôn cả hai sinh sống tại nhà mẹ đẻ của bà L tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương cho đến khi ly hôn vào năm 2014. Người trực tiếp sinh sống, quản lý đất tranh chấp là ông Nguyễn Văn T, bà H2 và bà T1. Năm 2020, ông Nguyễn Bá N có khởi kiện bà Ngô Thị Ngọc L về việc tranh chấp tài sản chung sau ly hôn đối với một phần đất khác và đã được xét xử bằng Bản án số 19/2020/HNGĐ-ST ngày 08 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng và Bản án số 01/2021/HNGĐ-PT ngày 18 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Bà L khai diện tích đất 256,9m², tại ấp A xã T, huyện B là do bà L đưa 04 chỉ vàng mượn của mẹ ruột đưa cho ông N đê mua đất nhưng không có căn cứ chứng minh và bà L không trực tiếp quản lý, sử dụng đất tranh chấp.
Phần đất bà L tranh chấp với ông N do ông Nguyễn Văn T, vợ trước của ông Nguyễn Văn T (bà H2) và bà T1 (vợ sau của ông Nguyễn Văn T) ở liên tục từ năm 1999 đến nay. Bà L khai có đưa ông N ba chỉ vàng để xây căn nhà cấp 4 trên đất nhưng không có tài liệu chứng cứ chứng minh. Trong thời kỳ hôn nhân cả hai trực tiếp sinh sống nhà mẹ đẻ của bà L tại ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương cho đến khi ly hôn vào năm 2014. Bà L không trực tiếp ở trong căn nhà trên phần đất tranh chấp, người sinh sống trong nhà là ông Nguyễn Văn T, bà H2 và bà T1. Lời khai của nguyên đơn và bị đơn phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Do bà L không có công sức đóng góp trong việc gìn giữ, tôn tạo đối với phần đất này nên Tòa án không xem xét công sức đóng góp tài sản trên đất tranh chấp cho bà L.
Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thì “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân...” thì tài sản bà L đang tranh chấp không phải là tài sản chung của bà L, ông N tạo lập được trong thời kỳ hôn nhân. Do đó yêu cầu kháng cáo của bà L là không có cơ sở chấp nhận.
[3] Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đề nghị hủy án sơ thẩm vì cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa điều tra đầy đủ những người tham gia tố tụng và chưa tiến hành đối chất mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.
[5] Án phí phúc thẩm: Bà L phải nộp theo quy định
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 148, khoản 1 Điều 308 và Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
9
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 26, khoản 8 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 254, 266, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 21; khoản 2 Điều 28; điểm a, khoản 1 Điều 35, khoản 2 Điều 92; Điều 228, Điều 229 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Căn cứ các Điều 33, 43, 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Ngô Thị Ngọc L.
Giữ nguyên Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 52/2023/HNGĐ-ST ngày 18 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị Ngọc L đối với ông Nguyễn Bá N về việc “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”.
- Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá: Bà Ngô Thị Ngọc L phải chịu 3.007.950 (ba triệu không trăm lẻ bảy nghìn chín trăm năm mươi) đồng, bà L đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị Ngọc L phải nộp 19.029.005 (Mười chín triệu, không trăm hai mươi chín nghìn, không trăm lẻ năm) đồng, được khấu trừ 18.250.000 (Mười tám triệu, hai trăm năm mươi nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0009153 ngày 01 tháng 6 năm 2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Bà Ngô Thị Ngọc L phải tiếp tục nộp 779.005 (Bảy trăm bảy mươi chín nghìn, không trăm lẻ năm) đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Ngô Thị Ngọc L phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010374 ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Nguyễn Ngọc Mai | Bùi Ngọc Thạch |
| Huỳnh Văn Luật |
Nơi nhận:
- - VKSND tỉnh Bình Dương;
- - TAND huyện Bàu Bàng;
- - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;;
- - TỔ HCTP TAND tỉnh Bình Dương;
- - Các đương sự (để thi hành);
- - Lưu: Hồ sơ, Tòa GĐ&NCTN.
Bản án số 21/2024/HNGĐ-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Số bản án: 21/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm