|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/HC-ST
Ngày: 26/4/2024
V/v: Khiếu kiện hành vi hành chính
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Đức Tuấn;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Anh Tuấn;
2. Ông Vũ Xuân Kiều.
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Phương Dung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Cẩm Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 112/2023/TLST-HC ngày 22 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST-HC ngày 03 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-HC ngày 17/4/2024 giữa các đương sự:
1. Người khởi kiện: Ông Vũ Bá Q bà Vũ Thị T
Địa chỉ: Tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh– Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Bá Q1 chỉ: Tổ C, khu D, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh– (Văn bản ủy quyền ngày 28/02/2024) Có mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp: Luật sư Phạm Ngọc M Luật sư số 1393/LS do L3cấp ngày 03/9/2019 – Luật sư Công ty L– địa chỉ: Tầng D, Tòa nhà T, số C, quận T, T mặt;
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố H1
Địa chỉ: Số B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Tiến D– Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H mặt, có đơn xin xử vắng mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Trần Văn C– Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất và ông Nông Vũ T1- Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố H– Ông C1 mặt, ông T1có mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân phường H1;
Địa chỉ: Phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tùng H – Chức vụ: Phó chủ tịch UBND phường H1 (Văn bản ủy quyền ngày 08/4/2024 – Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án Người khởi kiện trình bày:
Ngày 02/6/2009, UBND tỉnh Q hành Quyết định số 1747/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 khu T định cư phường H, thành phố Hdiện tích các ô đất từ 243m² đến 400m².
Ngày 07/9/2016, UBND tỉnh Q hành Quyết định số 2877 về phê duyệt giá đất cụ thể làm căn cứ bồi thường và bố trí tái định cư cho các hộ phải di dời do sử dụng các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người tại phường H, thành phố H
Ngày 04/11/2016, UBND thành phố H1 hành Quyết định số 4211/QĐ-UBND về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 10 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố HHộ gia đình chúng tôi thuộc diện di dời do nhà nước thu hồi đất.
Tại phương án bồi thường, hỗ trợ của các hộ dân khác cùng thuộc diện di dời do Nhà nước thu hồi đất, các hộ đều được bố trí tái định cư và được giao tái định cư với diện tích theo Quyết định 1747. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, hộ gia đình chúng tôi chưa thực hiện bắt thăm ô đất tái định cư vì còn thực hiện khiếu kiện để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình.
Ngày 29/5/2017, UBND thành phố H1 hành Quyết định số 6121/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, T lại diện tích các ô đất từ 85m² đến 112,2m².
Ngày 08/10/2019, UBND thành phố H1 hành Quyết định số 8519/QĐ-UBND về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu nghỉ dưỡng kết hợp thương mại, dịch vụ và nhà ở tại phường H, T lại diện tích các ô đất từ khoảng 60m² đến 82m².
Ngày 28/7/2020 và ngày 12/3/2021 đại diện hộ gia đình chúng tôi – ông Vũ Bá Q2 có đơn đề nghị về việc bố trí tái định cư gửi UBND thành phố Hvà Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố.
Ngày 26/7/2021, Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố Hban hành công văn số 2239/PTQĐ trả lời ông Vũ Bá Q3 tổ C, khu D, phường H có nội dung “... nội dung ông kiến nghị diện tích ô đất tái định cư là 243m² đến 400m² là hông có cơ sở giải quyết”.
Ngày 10/8/2022, Công ty L(đơn vị nhận ủy quyền của 04 hộ dân Vũ Bá Q4 Bá QVũ Như BVũ Đình M1trú tại tổ C, khu D, phường H công văn số 95-2022/DNN-EVER “kiến nghị cấp quyền sử dụng đất hợp pháp cho 04 ô đất tái định cư” tới UBND thành phố H đó Công ty L4đề nghị được bố trí diện tích tái định cư theo Quyết định số 1747 cho 4 hộ dân.
Ngày 05/9/2022, UBND thành phố Hban hành công văn số 6852/UBND-TNMT về việc trả lời kiến nghị của Công ty L4trong đó có nội dung “.... tại thời điểm thu hồi đất của 04 hộ dân (từ năm 2016) các cơ quan chức năng của thành phố đã nhiều lần mời 04 hộ dân đến bắt thăm ô đất tái định cư nhưng cho đến thời điểm năm 2017, 04 hộ gia đình vẫn không thực hiện việc bắt thăm ô đất tái định cư cho nên UBND thành phố không có cơ sở thực hiện thủ tục giao đất cho 04 hộ dân (thời điểm này các ô đất tái định cư có diện tích từ 243m² đến 400m² theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q hiệu lực thi hành. Do đó nội dung đề nghị cho 04 hộ gia đình được bắt thăm vào ô đất tái định cư có diện tích từ 243m² đến 400m² tại thời điểm hiện nay là không có cơ sở giải quyết.
Chúng tôi cho rằng: Thời điểm thu hồi đất, lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của 04 hộ gia đình là năm 2016. Khi đó, Quyết định số 1747/QĐ-UBND của UBND tỉnh Qđang có hiệu lực thi hành. Diện tích các ô đất tái định cư được xác định là 243m² đến 400m². Thời điểm UBND thành phố H1 hành Quyết định số 6121/QĐ-UBND ngày 29/5/2017 để điều chỉnh lại diện tích ô đất tái định cư sau khi đã có Quyết định thu hồi và phương án bồi thương, hỗ trợ, tái định cư đối với gia đình chúng tôi và yêu cầu chúng tôi phải thực hiện là không hợp pháp.
Đại diện hộ gia đình chúng tôi đã nhiều lần tới UBND thành phố Hạ Lđể bắt thăm ô đất tái định cư nhưng không tiến hành bắt thăm bởi những lý do sau:
- (1) Hộ gia đình chúng tôi không nhất trí phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của UBND thành phố Hcụ thể: Diện tích ô đất nhỏ hơn diện tích 243m² đến 400m² theo Quyết định số 1747 nên còn khiếu kiện.
- (2) Dự án thu hồi đất sạt lở còn nhiều hộ dân chưa nhận tái định cư do giá đất tái định cư cao (được thể hiện rõ tại văn bản số 2125/UBND ngày 27/3/2017 của UBND thành phố H
Việc UBND thành phố Hkhẳng định do “... hộ dân không phối hợp, không thể hiện nhu cầu đất tái định cư” là không có cơ sở. Bởi lẽ: Gia đình chúng tôi sinh sống tại tổ D phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh– nơi
được cho là có nguy cơ sạt lở cao, nguy hiểm không thể ở. Đời sống của nhân dân vô cùng khó khăn: Diện tích nhà chật hẹp, căn nhà đã xuống cấp trầm trọng, xung quanh không có hàng xóm, điều kiện điện, nước, đi lại hết sức khó khăn. Tuy nhiên, nhận thấy quyền và lợi ích của người có đất bị thu hồi là chưa được đảm bảo, nên hộ chúng tôi vẫn bám đất để theo đuổi khiếu kiện.
Căn cứ quy định tại Điều 85, 86 Luật Đất đai 2013; Điều 26 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP: Việc lập dự án tái định cư phải được đảm bảo trước khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất. Do đó, UBND thành phố Hkhông thể áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực sau thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Quyết định 6121/QĐ-UBND ngày 29/5/2017; Quyết định 8519/QĐ-UBND ngày 08/10/2019 ...) để áp dụng đối với hộ gia đình chúng tôi.
Cho rằng quyền lợi bị xâm phạm nên ông Vũ Bá Q bà Vũ Thị T2 kiện hành vi hành chính của UBND thành phố Hvề hành vi không bố trí tái định cư theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q“V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, T các ô đất từ 243m² đến 400m².
Buộc UBND thành phố Hbố trí tái định cư cho hộ gia đình chúng tôi theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q“V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, T các ô đất từ 243m² đến 400m².
Đại diện hợp pháp của UBND thành phố H quan điểm:
Theo “Đề án di dân tổng thể ra khỏi vùng sạt lở, ngập lụt nguy hiểm và quy hoạch bố trí dân cư phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025” được UBND Tỉnh phê duyệt kèm theo Quyết định số 1357/QĐ-UBND ngày 04/5/2016 và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung tại các Quyết định: số 2789/QĐ-UBND ngày 20/7/2017; số 3275/QĐ-UBND ngày 25/8/2017 và số 127/QĐ-UBND ngày 18/01/2018.
Ngày 08/6/2016, UBND thành phố Hban hành Thông báo số 239/TB-UBND về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H– trong đó có hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T3
Thửa đất số 28 tờ bản GPMB số 1 (là thửa đất ở) của hộ ông, bà Vũ Bá Q5 - Vũ Thị T4 diện thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H
Căn cứ hồ sơ kiểm đếm và bản chứng nhận nguồn gốc đất do UBND phường H, Trung tâm phát triển quỹ đất đã lập phương án bồi thường trình Hội đồng thẩm định phương án bồi thường Thành phố thẩm định và trình UBND Thành phố phê duyệt tại Quyết định số 4212/QĐ-UBND ngày 04/11/2016. Song song với đó, ngày 04/11/2016, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 4211/QĐ-UBND ngày 04/11/2016 về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H đó có thửa đất số 76, diện tích 779,1m², chủ sử dụng đất là ông, bà Đinh Văn GNguyễn Thị NTuy n, trong quá thực hiện việc lập phương án bồi thường, nhận thấy có sự nhầm lẫn và đã có xác minh thay đổi chủ sử dụng đất thửa đất nêu trên, nên ngày 11/5/2017, UBND thành phố Hđã ban hành Quyết định số 5853/QĐ-UBND về việc điều chỉnh một phần nội dung tại Quyết định số 4211/QĐ-UBND ngày 04/11/2016 của UBND thành phố Hđã điều chỉnh thửa đất thu hồi là thửa đất số 28, chủ sử dụng đất là ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T
Ngày 27/9/2017, tổ công tác do UBND phường H phối hợp với Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố đã rà soát và giải quyết các kiến nghị của hộ gia đình ông Vũ Bá Q5
Ngày 06/7/2017, UBND thành phố Hđã có Quyết định số 6871/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án hỗ trợ ngoài chính sách đối với hộ ông Vũ Bá Q6 tiền hỗ trợ là 838.571.245 đồng.
Ngày 29/9/2017, UBND thành phố H có Quyết định số 8206/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung đối với hộ ông Vũ Bá Q5(dựa trên kết quả làm việc ngày 27/9/2017).
Ngoài ra, Công ty Cổ phần T12 còn hỗ trợ ngoài chính sách cho ông Q7 số tiền là 15.273.000 đồng.
Gia đình đủ điều kiện cấp 01 ô đất Tái định cư.
Về quỹ đất Tái định cư:
Ngày 29/6/2009, UBND tỉnh Q hành Quyết định số 1474/QĐ-UBND V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, T các ô đất từ 243,0m2 đến 400,0m2.
Căn cứ tình hình sử dụng quỹ đất Tái định cư của Thành phố để bố trí quỹ đất Tái định cư cho toàn bộ đối tượng đủ điều kiện Tái định cư và xét mua đất trên toàn địa bàn thành phố H khả năng chi trả nghĩa vụ tài chính của các hộ dân ở thời điểm năm 2016 (khi đó có nhiều hộ dân kiến nghị do diện tích ô đất ở tái định cư theo Quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 1474/QĐ-UBND
của UBND tỉnh, có quy mô lớn nên không đủ khả năng tài chính để chi trả, dẫn đến việc UBND thành phố Hđã ban hành thu hồi nhiều Quyết định giao đất.
Do vậy, UBND Thành phố ban hành Quyết định số 6121/QĐ-UBND ngày 29/5/2017 “V/v phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, T lại diện tích các ô đất tái định cư có diện tích từ 85m2 đến 112,2m2 (đối với các ô đất thuộc các Lô LK1, LK2, LK3, LK4, LK5, LK6, LK7, LK8).
Ngày 08/9/2017, UBND thành phố H1 hành Quyết định số 7913/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án tái định cư cho 03 hộ dân phường Hthuộc diện GPMB dự án: Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H– trong đó có hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T3
Ngày 31/1/2018, UBND thành phố Hcó Thông báo số 63/TB-UBND Thông báo về việc bắt thăm chọn vị trí tái định cư Khe cá Hcho hộ gia đình, cá nhân thuộc diện GPMB dự án: Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H
Thực hiện Thông báo số 63/TB-UBND ngày 31/1/2018 của UBND thành phố HNgày 05/2/2018, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố Htổ chức bắt thăm chọn vị trí ô đất tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân. Tuy nhiên, hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T5 mời nhưng không có mặt. Trung tâm Phát triển quỹ đất Thành phố có mời những lần tiếp theo nhưng hộ gia đình ông, bà đều không có mặt.
Sau khi những ô đất Tái định cư thuộc khu Quy hoạch điều chỉnh điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, thành phố H được bố trí cho các hộ gia đình, cá nhân khác trên địa bàn Thành phố.
Ngày 08/02/2022, UBND thành phố Hban hành Thông báo số 51/TB-UBND "Về việc bắt thăm vị trí giao đất tái định cư đôi với 04 hộ dân thuộc diện GPMB dự án Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H đó 04 hộ ông, bà Vũ B Q1Nguyễn T Bá QVũ Thị TVũ Như B - Vũ Thị C2 AVũ Đình M1Vũ Thị T2được bắt thăm vào các ô đất thuộc Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 - Khu nghỉ dưỡng kết hợp thương mại dịch vụ và nhà ở tại phường H, thành phố H UBND thành phố Hphê duyệt tại Quyết định số 8519/QĐ-UBND ngày 09/10/2019. Ngày 21/02/2022, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố H chủ trì, phối hợp cùng các đơn vị liên quan thực hiện tổ
chức bắt thăm vị trí tái định cư cho 04 hộ dân trên. Tuy nhiên, tại buổi bắt thăm 04 hộ ông bà Vũ Bá Q Thị L2Vũ Bá QVũ Thị TVũ Như BVũ Thị Chung AVũ Đình M T2không đồng ý bắt thăm với lý do: Đề nghị được bắt thăm vào các ô đất từ 85m² đến 112m² tại điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, Thành phố H UBND thành phố Hphê duyệt tại Quyết định số 6121/QĐ-UBND ngày 29/5/2017. Nội dung này, UBND thành phố H có Văn bản số 1297/UBND-TNMT ngày 23/02/2022 trả lời nội dung kiến nghị trên là không có cơ sở giải quyết.
Như vậy, từ những lý do trên, việc ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T khởi kiện, yêu cầu: Buộc UBND thành phố Hạ Long bố trí tái định cư cho gia đình theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND Tỉnh về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu tái định cư tại phường Hdiện tích các ô đất từ 243m² đến 400m² là không có cơ sở giải quyết, đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T3
Đại diện theo ủy quyền của UBND phường H1 có quan điểm về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất tương tự quan điểm của UBND thành phố H
Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai chứng cứ và đối thoại, nhưng do Đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện vắng mặt nên không tiến hành đối thoại được.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của Người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu ý kiến về tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa và của Người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện cơ bản đúng, đầy đủ quy định của Luật Tố tụng hành chính. Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của Người khởi kiện.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa sơ thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Ngày 05/9/2022, UBND thành phố H1 hành văn bản số 6852/UBND-TNMT giải quyết kiến nghị của Công ty L(là đại diện theo ủy quyền của các hộ dân Vũ Bá Q4 Bá QVũ Như Bvà Vũ Đình M1 về đề nghị cho 4 hộ gia đình
được bắt thăm vào ô đất tái định cư có diện tích từ 243m² đến 400m² theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q đề nghị được nộp tiền sử dụng đất theo giá đất tại văn bản số 2125/UBND ngày 27/3/2017 của UBND thành phố H không có cơ sở giải quyết. Ngày 14/4/2023 ông Vũ Bá Q8 Vũ Thị T khởi kiện hành vi hành chính của UBND thành phố Hvề việc không bố trí tái định cư theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND “V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư P, T các ô đất từ 243,0m2 đến 400,0m² ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh QĐây là hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai quy định tại khoản 6 Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 và là hành vi hành chính bị kiện quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính. Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và đảm bảo trong thời hiệu khởi kiện.
Đối với Quyết định số 5853/QĐ-UBND ngày 11/5/2017 của UBND thành phố H điều chỉnh mội phần nội dung tại Quyết định số 4211/QĐ-UBND ngày 04/11/2016 của UBND thành phố H về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 10 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H, trong đó nội dung hộ ông, bà Đinh Văn G– Nguyễn Thị N thứ tự 7 trong danh sách kèm theo bị thu hồi 779,1m² đất được điều chỉnh lại là ông, bà Vũ Bá Q5- Vũ Thị T6 Quyết định số 5856/QĐ-UBND ngày 11/5/2017 của UBND thành phố H về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho 03 hộ dân phường Htrong đó có hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T7 thực hiện dự án là Quyết định hành chính có liên quan đã được đánh giá tính hợp pháp tại Bản án số 67/2018/HC-ST ngày 13/11/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Bản án số 359/2019/HC-PT ngày 16/12/2019 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội nên không đề cập nữa.
Đối với Quyết định số 7913/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 của UBND thành phố Hvề việc phê duyệt phương án tái định cư cho hộ gia đình ông, bà Vũ Bá Q5 – Vũ Thị T thuộc diện GPMB dự án: Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H dù không bị khởi kiện, nhưng là Quyết định hành chính có liên quan nên cũng được xem xét đánh giá trong cùng vụ án.
Tại phiên tòa, vắng mặt Đại diện theo ủy quyền của Người bị kiện nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 Luật tố tụng hành chính, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.
[2] Xem xét tính hợp pháp của hành vi hành chính bị kiện:
Căn cứ “Đề án di dân tổng thể ra khỏi vùng sạt lở, ngập lụt nguy hiểm và quy hoạch bố trí dân cư phòng chống thiên tai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2020 và định hướng đến năm 2025” đã được UBND Tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 1357/QĐ-UBND ngày 04/5/2016 và phê duyệt điều chỉnh, bổ sung tại các Quyết định số 2789/QĐ-UBND ngày 20/7/2017; số 3275/QĐ-UBND ngày 25/8/2017 và số 127/QĐ-UBND ngày 18/01/2018.
Ngày 08/6/2016, UBND thành phố Hban hành Thông báo số 239/TB-UBND về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H
Ngày 04/11/2016 UBND thành phố H ban hành Quyết định số 4211/QĐ-UBND về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 10 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H, hộ ông, bà Đinh Văn G – Nguyễn Thị N thứ tự 7 trong danh sách kèm theo bị thu hồi 779,1m² đất.
Ngày 15/11/2016 UBND thành phố H văn bản số 7217/UBND gửi UBND tỉnh Qđề nghị về việc điều chỉnh Quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư P, thành phố H
Ngày 24/11/2016 UBND tỉnh Q hành văn bản số 7658/UBND-QH1 đồng ý với đề nghị của UBND thành phố H việc chấp thuận điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư P, thành phố H(đã được UBND tỉnh Qphê duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009) theo hướng điều chỉnh diện tích các ô đất ở để phù hợp với nhu cầu sử dụng của các hộ dân tái định cư và đảm bảo không gian kiến trúc cảnh quan và đấu nối hạ tầng kỹ thuật chung khu vực và ủy quyền cho UBND thành phố H điều chỉnh cục bộ Quy hoạch trên cơ sở lấy ý kiến thống nhất của Sở Xây dựng đảm bảo các quy định pháp luật hiện hành.
Ngày 11/5/2017 UBND thành phố H ban hành Quyết định số 5853/QĐ-UBND điều chỉnh mội phần nội dung tại Quyết định số 4211/QĐ-UBND ngày 04/11/2016 của UBND thành phố H về việc thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 10 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H, trong đó nội dung hộ ông, bà Đinh Văn G– Nguyễn Thị N thứ tự 7 trong danh sách kèm theo bị thu hồi 779,1m² đất được điều chỉnh lại là ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T8 thứ tự 7 trong danh sách kèm theo bị thu hồi 779,1m² đất.
Ngày 11/5/2017 UBND thành phố H ban hành Quyết định số 5856/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ cho 03 hộ dân phường H thực hiện dự án: Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản tại phường H, thành phố H, hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T8 thứ tự 3 trong danh sách kèm theo.
Ngày 29/5/2017 UBND thành phố H1 hành Quyết định số 6121/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, thành phố H
Ngày 08/9/2017 UBND thành phố H1 hành Quyết định số 7913/QĐ-UBND phê duyệt phương án tái định cư cho 03 hộ gia đình tại phường Hthuộc diện GPMB dự án: Thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của 28 hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H, hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T8 thứ tự 3 trong danh sách kèm theo.
Trên cơ sở Quyết định phê duyệt phương án tái định cư, UBND thành phố Hđã nhiều lần tổ chức cuộc họp bốc thăm tái định cư đối với các hộ dân thuộc diện được tái định cư, gửi giấy mời bốc thăm cho các hộ dân theo quy định, đa số các hộ dân đã bốc thăm để lựa chọn ô đất tái định cư.
Thấy rằng: Quyết định số 7913/QĐ-UBND ngày 08/9/2017 về phê duyệt phương án tái định cư đối với hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T9 được ban hành đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định tại Luật Đất đai năm 2013 và văn bản hướng dẫn thi hành. Quá trình thực hiện phương án Tái định cư, Phòng T4Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố, UBND phường H tổ chức bắt thăm, giao đất cho các hộ gia đình thuộc diện tái định cư theo đúng quy định.
[3] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện
Ngày 02/6/2009 UBND tỉnh Q hành Quyết định số 1747/QĐ-UBND phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, thành phố H tính chất là khu tái định cư phục vụ GPMB phục vụ dự án mở rộng sản xuất của Công ty Cổ phần T13 nhu cầu tái định cư của các dự án trong khu vực. Theo đó, các ô đất được quy hoạch theo dạng “Nhà biệt thự song lập” có diện tích từ 243m² đến 400m², mật độ xây dựng là 30%.
Căn cứ tình hình sử dụng quỹ đất Tái định cư của Thành phố để bố trí quỹ đất Tái định cư cho toàn bộ đối tượng đủ điều kiện Tái định cư và xét mua đất trên toàn địa bàn thành phố H khả năng chi trả nghĩa vụ tài chính của các hộ dân ở thời điểm năm 2016. Do diện tích ô đất ở tái định cư theo Quy hoạch được duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND của UBND tỉnh, có quy mô, diện tích lớn, trong khi tài sản các hộ dân thuộc diện di dời có giá trị bồi thường thấp nên các hộ dân gặp nhiều khó khăn về kinh phí để thực hiện nghĩa vụ tài chính, khó khăn trong việc nhận đất để tái định cư. Sau khi nghiên cứu quy hoạch, thực tế hiện trạng kiến trúc, cảnh quan khu vực và đánh giá nhu cầu đất ở tái định cư trên địa bàn thành phố. Ngày 15/11/2016 UBND thành phố H1 hành văn bản số 7217/UBND gửi UBND tỉnh Qđề nghị về việc điều chỉnh Quy
hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư P, T thuận lợi cho việc thực hiện bố trí tái định cư cho các hộ dân.
Ngày 24/11/2016 UBND tỉnh Q hành văn bản số 7658/UBND-QH1 đồng ý với đề nghị của UBND thành phố H việc chấp thuận điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết xây dựng tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư P, thành phố H(đã được UBND tỉnh Qphê duyệt tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009) theo hướng điều chỉnh diện tích các ô đất ở để phù hợp với nhu cầu sử dụng của các hộ dân tái định cư và đảm bảo không gian kiến trúc cảnh quan và đấu nối hạ tầng kỹ thuật chung khu vực và ủy quyền cho UBND thành phố H điều chỉnh cục bộ Quy hoạch trên cơ sở lấy ý kiến thống nhất của Sở Xây dựng đảm bảo các quy định pháp luật hiện hành.
Ngày 29/5/2017 UBND Thành phố H1 ban hành Quyết định số 6121/QĐ-UBND phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, thành phố H điều chỉnh lại diện tích các ô đất tái định cư có diện tích hiện tại từ 85m² đến 112,2m² và quy hoạch theo dạng “Nhà ở liên kế” (đối với các ô đất thuộc các Lô LK1, LK2, LK3, LK4, LK5, LK6, LK7, LK8). Năm 2016, hộ ông, bà Vũ Bá Q5 – Vũ Thị T bị thu hồi 779,1m² đất, trong đó có 200m² đất ở để thực hiện dự án di dân ra khỏi vùng sạt lở, ngập lụt nguy hiểm và quy hoạch bố trí dân cư phòng chống thiên tai.
Tại Quyết định số 7913/QĐ-UBND ngày 08/9/2017, UBND thành phố Hphê duyệt phương án tái định cư cho hộ ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T10 bố trí 01 ô đất tái định cư tại khu tái định cư K cá phường H khu vực đã được điều chỉnh quy hoạch ô đất tái định cư có diện tích từ 85m² đến 112,2m² theo Quyết định số 6121/QĐ-UBND.
Thấy rằng Quyết định số 6121/QĐ-UBND ngày 29/5/2017 của UBND thành phố H phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 Khu tái định cư tại phường H, thành phố H điều chỉnh lại diện tích các ô đất tái định cư có diện tích từ 85m² đến 112,2m² và quy hoạch theo dạng “Nhà ở liên kế” là đúng quy định.
Hộ ông Vũ Bá Q8 Vũ Thị T9 được mời bốc thăm tái định cư nhưng không bốc thăm mà khởi kiện yêu cầu được bốc thăm vào khu vực có diện tích ô đất từ 243m² đến 400m² là ô đất dạng biệt thự theo quy hoạch tại Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q Trong khi quy hoạch này đã bị điều chỉnh tại Quyết định số 6121/QĐ-UBND theo đúng quy định như đã nêu trên.
Do đó ông, bà Vũ Bá Q5– Vũ Thị T2 kiện UBND thành phố Hvề việc không bố trí tái định cư theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q“V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, T các ô đất từ 243m² đến 400m² và buộc UBND thành phố
Hbố trí tái định cư cho hộ gia đình chúng tôi theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q“V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, T các ô đất từ 243m² đến 400m² là không có căn cứ.
Xét thấy yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ, vì vậy cần bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Bá Q8 Vũ Thị T
[4] Về án phí:
Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận nên ông Vũ Bá Q8 Vũ Thị T phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Toà án.
1. Xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Bá Q8 Vũ Thị T đối với hành vi hành chính của UBND thành phố Hvề việc không bố trí tái định cư theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q“V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, T các ô đất từ 243m² đến 400m² và buộc UBND thành phố Hbố trí tái định cư cho hộ gia đình chúng tôi theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q“V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, T các ô đất từ 243m² đến 400m².
2. Về án phí:
Ông Vũ Bá Q8 Vũ Thị T11 người phải nộp 300.000₫ (Ba trăm, nghìn đồng) án phí Hành chính sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp thể hiện tại các Biên lai thu tiền số 0005701 và 0005702 ngày 21/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh, ông Q bà T đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Bùi Đức Tuấn |
Bản án số 21/2024/HC-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về khiếu kiện hành vi hành chính
- Số bản án: 21/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hộ ông, bà Vũ Bá Q - Vũ Thị T bị thu hồi đất thuộc dự án thu hồi các thửa đất sạt lở, vị trí nguy hiểm không thể ở, đe dọa tính mạng con người và tài sản của các hộ gia đình, cá nhân tại phường H, thành phố H, hộ ông Q được phê duyệt phương án tái định cư vào khu đất tái định cư có diện tích từ 85m2 đến 112,2m2 , hộ ông Q không đồng ý mà yêu cầu được bố trí tái định cư có diện tích từ 85m2 đến 112m2, nhưng hộ ông Q không đồng ý mà yêu cầu được tái định cư vào khu đất có diện tích từ 243m2 đến 400m2 theo Quyết định số 1747/QĐ-UBND ngày 02/6/2009 của UBND tỉnh Q “V/v phê duyệt quy hoạch chi tiết tỉ lệ 1/500 Khu tái định cư tái phường H, thành phố H
