|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày: 30/5/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng mua bán, đòi tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Thanh Thuần;
- Ông Lê Văn Hoàng.
Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Chi – Kiểm sát viên.
Ngày 30/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2023/TLST-DS ngày 09/10/2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán, đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST-DS ngày 06/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-DS ngày 17/5/2024, giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1961 và bà Trần Thị N, sinh năm 1962; cùng cư trú: Tổ H, khóm P, phường A, thị xã T, tỉnh An Giang; có ông Nguyễn Thái B, sinh năm 1989, nơi cư trú: Tổ C, khóm M, phường V, thành phố C đại diện theo ủy quyền (hợp đồng ủy quyền ngày 23/01/2024 lập tại Văn phòng C, địa chỉ: tổ C, khóm X, phường T, thị xã T).
Đồng bị đơn: Ông Nguyễn Văn L (Út L1), sinh năm 1968 và bà Lê Thị B1, sinh năm 1968; cùng cư trú: Tổ A, khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.
Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện, đồng nguyên đơn trình bày:
Gia đình nguyên đơn chuyên chăn nuôi heo, vợ chồng bị đơn ông Nguyễn Văn L và bà Lê Thị B1 có mua heo của đồng nguyên đơn 03 đợt, kể từ ngày 06/12/2021 âm lịch đến ngày 29/12/2021 âm lịch (tức ngày 08/01/2022 đến ngày 31/01/2022), cụ thể:
- - Đợt 1: 07 con đã trả đủ tiền;
- - Đợt 2: 19 con, trả tiền 02 lần còn nợ lại 900.000 đồng;
- - Đợt 3: 22 con, chưa trả nợ lại 95.250.000 đồng;
Tổng cộng, đồng bị đơn còn nợ tiền mua heo của đồng nguyên đơn số tiền 96.150.000 đồng.
Đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc đồng bị đơn có trách nhiệm liên đới trả số tiền 96.150.000 (chín mươi sáu triệu, một trăm năm mươi nghìn) đồng. Đồng thời yêu cầu tính lãi suất đối với số tiền 96.150.000 đồng theo lãi suất ngân hàng N1 là 1,6%/tháng, kể từ 31/01/2022 đến ngày Tòa án xét xử.
Ý kiến trong quá trình tố tụng, đồng nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, cụ thể đồng nguyên đơn xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Bích t số tiền 96.150.000 đồng, đây là số tiền mua heo còn nợ. Đồng thời, yêu cầu Tòa án tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền nêu trên, thời điểm tính lãi kể từ ngày 19/6/2022 (ngày bà B1 cam kết hứa trả theo biên bản hòa giải ngày 19/5/2022 tại khóm X, phường T) cho đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Đồng nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn L về việc cùng có trách nhiệm liên đới với bà B1 trả nợ.
Chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, đồng nguyên đơn cung cấp cho Tòa án Biên bản hòa giải tranh chấp tại khóm X, thị trấn nay là phường T ghi ngày 19/5/2022.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng Thông báo thụ lý, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đồng bị đơn vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tại biên bản xác minh ngày 18/4/2024, ông Lê Văn B2 – Trưởng khóm X, phường T cho biết:
Ngày 19/5/2022 Ban K có tổ chức hòa giải tranh chấp giữa ông Trần Văn H với bà Lê Thị Bích . Tại buổi hòa giải, bà B1 thừa nhận có mua heo của vợ chồng ông H và hẹn khi nào bán đất sẽ trả tiền đủ. Căn cứ vào ý kiến của các bên, Ban khóm lập biên bản hòa giải ngày 19/5/2022 là đúng.
Tại phiên tòa,
Đồng nguyên đơn xác định không cung cấp, bổ sung thêm chứng cứ nào khác, đồng thời xác định chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Bích t số tiền 96.150.000 đồng tiền mua heo còn nợ, rút lại yêu cầu ông Nguyễn Văn L cùng bà B1 có trách nhiệm liên đới trả nợ. Ngoài ra, đồng nguyên đơn xác định chỉ yêu cầu Tòa án tính lãi chậm thanh toán từ ngày 19/6/2022 đối với số tiền nêu trên, rút yêu cầu tính lãi theo lãi suất ngân hàng N1 là 1,6%/tháng, kể từ 31/01/2022 đến ngày Tòa án xét xử.
- Ý kiến Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án thực hiện đúng, cơ bản thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS).
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Người tham gia tố tụng, nguyên đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 71 BLTTDS. Tuy nhiên, bị đơn chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng theo Điều 70, 72 BLTTDS.
+ Về giải quyết vụ án:
Căn cứ biên bản hòa giải ngày 19/5/2022 và biên bản xác minh ngày 18/4/2024 tại Ban khóm X, phường T, bị đơn bà Lê Thị B1 thừa nhận có mua heo hơi của ông H, bà N còn nợ lại số tiền 96.150.000 đồng và cam kết sẽ trả số tiền này trong vòng 01 tháng từ ngày 19/5/2022 đến ngày 19/6/2022. Như vậy, đây là tình tiết được các bên thừa nhận nên không cần chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó, đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà B1 trả số tiền 96.150.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với yêu cầu tính lãi chậm thực hiện nghĩa vụ, nhận thấy theo biên bản hòa giải ngày 19/5/2022, bà B1 cam kết đến ngày 19/6/2022 sẽ trả đủ số tiền đã nợ, tuy nhiên bà B1 không thực hiện nên đồng nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán là có cơ sở chấp nhận.
Đối với việc đồng nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn L và rút yêu cầu tính lãi theo quy định pháp luật, nhận thấy đây là quyền tự định đoạt của đương sự đề nghị đình chỉ.
Từ những phân tích như trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 166, 280, 430, 431, 440 và Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015, xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu ông L liên đới cùng bà B1 trả số tiền 96.150.000 đồng và yêu cầu ông L, bà B1 trả lãi theo quy định pháp luật đối với số tiền 96.150.000 đồng. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Lê Thị B1 có trách nhiệm trả cho ông H, bà N số tiền 96.150.000 đồng và lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm kể từ ngày 19/6/2022 đến khi xét xử vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận tại phiên tòa, nhận thấy:
Về tố tụng:
- Đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Bích t 96.150.000 đồng, số tiền mua bán heo còn nợ và yêu cầu tính lãi chậm thanh toán. Xét, đây là tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự (mua bán heo), đòi tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS); bị đơn cư trú tại thị xã T nên Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo thẩm quyền được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, đồng nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Văn L về việc cùng bà Lê Thị B1 liên đới trả số tiền 96.150.000 đồng; đồng thời rút yêu cầu tính lãi theo lãi suất ngân hàng N1 là 1,6%/tháng, kể từ 31/01/2022 đến ngày Tòa án xét xử, chỉ khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Bích t số tiền 96.150.000 đồng và yêu cầu Tòa án tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền nêu trên, thời điểm tính lãi kể từ ngày 19/6/2022 đến ngày Tòa án đưa vụ án ra xét xử. Xét, đây là sự tự nguyện và quyền tự định đoạt của đồng nguyên đơn nên chấp nhận như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên, đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện mà đồng nguyên đơn đã rút theo quy định tại Điều 244 BLTTDS; Toà án chỉ xem xét, giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn theo quy định tại Điều 5 BLTTDS.
- Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, 228 BLTTDS.
Về nội dung:
- Xem xét yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn:
- Đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Bích t 96.150.000 đồng số tiền mua heo còn nợ. Tại biên bản hòa giải ngày 19/5/2022 và biên bản xác minh ngày 18/4/2024 tại Ban khóm X, phường T, bà B1 thừa nhận có mua heo của đồng nguyên đơn còn nợ lại số tiền như đồng nguyên đơn trình bày và cam kết sẽ trả số tiền này trong vòng 01 tháng từ ngày 19/5/2022 đến ngày 19/6/2022. Xét, đây thuộc trường hợp những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh được quy định tại Điều 92 BLTTDS nên có căn cứ xác định giữa đồng nguyên đơn và bị đơn bà Lê Thị B1 có xác lập giao dịch dân sự về mua bán tài sản.
Khoản 1 Điều 440 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền theo thời hạn, địa điểm và mức tiền được quy định trong hợp đồng.
Do đó, việc đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bà B1 trả 96.150.000 đồng số tiền mua heo còn nợ là có căn cứ chấp nhận như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
-
- Xem xét yêu cầu tính lãi chậm thanh toán của đồng nguyên đơn:
Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
- Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
- Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này.
Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.
Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Căn cứ các quy định pháp luật như viện dẫn nêu trên, thấy rằng tại biên bản hòa giải ngày 19/5/2022 tại Ban khóm X, bà B1 cam kết sẽ trả số tiền 96.150.000 đồng trong vòng 01 tháng từ ngày 19/5/2022 đến ngày 19/6/2022 nhưng đến nay bà B1 vẫn chưa thực hiện. Do đó, việc đồng nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền bà B1 mua heo còn nợ, lãi tính từ ngày 19/6/2022 đến ngày Tòa án xét xử vụ án (30/5/2024) là có căn cứ chấp nhận như quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên.
Tiền lãi chậm thanh toán được tính như sau:
96.150.000 đồng x 23 tháng 10 ngày (từ ngày 19/6/2022 đến 30/5/2024) x 0,83%/tháng (10%/năm) = 18.355.000 đồng + 266.015 đồng = 18.621.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền bị đơn bà Lê Thị B1 có trách nhiệm trả cho đồng nguyên đơn là 96.150.000 đồng + 18.621.000 đồng = 114.771.000 đồng. Xét buộc bị đơn bà Lê Thị B1 có trách nhiệm trả cho đồng nguyên đơn số tiền 114.771.000 đồng.
- Về án phí, bị đơn bà Lê Thị B1 có trách nhiệm trả nợ nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Đồng nguyên đơn là người trên 60 tuổi, được xét miễn nộp tạm ứng án phí nên không xem xét hoàn trả lại.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 166, 280, 430, 431, 440, 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Trần Văn H và bà Trần Thị N;
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn ông Trần Văn H và bà Trần Thị N yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn L (Út L1) liên đới trả số tiền 96.150.000 đồng và yêu cầu tính lãi theo lãi suất ngân hàng N1 là 1,6%/tháng, kể từ 31/01/2022 đến ngày Tòa án xét xử.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lê Thị B1 phải chịu 5.738.500 (năm triệu, bảy trăm ba mươi tám nghìn, năm trăm) đồng.
- Quyền kháng cáo: Đồng nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đồng bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
Buộc bà Lê Thị B1 có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn H và bà Trần Thị N số tiền 114.771.000 (một trăm mười bốn triệu, bảy trăm bảy mươi mốt nghìn) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tâm |
Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng mua bán, đòi tài sản
- Số bản án: 21/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán, đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
