TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 21/2024/DS-ST Ngày: 26 - 4 - 2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Duy Bảo
Bà Nguyễn Thị Quế Anh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Bằng Giang - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 3 và 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 146/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp về quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 14/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Thái Doãn Đ, sinh năm 1958; Địa chỉ: Xóm A (T), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1973; Địa chỉ: Xóm A (T), xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; Có mặt.
- Anh Thái Doãn T1, sinh năm 1985; Vắng mặt.
- Chị Thái Thị H; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Thái Doãn Đ trình bày:
Năm 1976, gia đình ông về sinh sống trên thừa đất tại xóm A, xã N, quá trình sinh hoạt ổn định trên đất nay. Năm 2016, gia đình ông được Ủy ban nhân dân huyện N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông đối với thửa đất này. Thửa đất số 204, tờ bản đồ 36 diện tích thửa đất 861,1 m² tại xóm A, xã N (lúc này thửa đất của ông đã tách một phần cho con là anh Thái Doãn C). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD321902 cấp ngày 09 tháng 8 năm 2016 mang tên Thái Doãn Đ và vợ là Nguyễn Thị T.
Sau khi ông về ở trên thửa đất này được khá nhiều năm, trước khi gia đình bà Nguyễn Thị L về sinh sống ở thửa đất bên rìa thì ông đã xây hàng rào. Trong đó, góc phía Tây thửa đất của ông, ông đã xây dựng thụt vào đất ông 48cm. Năm 2014, bà Nguyễn Thị L đã xây dựng nhà phía Tây đất ông và sử dụng luôn phần đất còn lại của ông ngoài hàng rào. Hiện tại, hàng rào của ông xây dựng vẫn còn đó nhưng phần đất bên ngoài hàng rào thì bị nhà xây chồng lên. Ngôi nhà xây dựng lên đất ông là của cháu Thái Doãn T1 (con trai của anh chồng bà L). Tổng diện tích bị xây lấn là 6,4 m².
Do bản thân ông xây hàng rào đo đạc không cẩn thận nên bị thiếu hụt 6,4 m² kể trên. Hiện nay, được sự cho phép của bà L, cháu T1 đã xây công trình lấn lên phần diện tích đất đó (Diện tích đất đó đang ở trong GCNQSDĐ của bà L). Nay xét tình nghĩa ruột thịt, máu mủ, ông không yêu cầu lấy lại đất hay đền bù gì mà chỉ yêu cầu bà L kí vào biên bản ranh giới hiện trạng để ông được chỉnh lý lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, đúng diện tích thực tế.
Trường hợp bà L không chịu hợp tác kí vào biên bản xác định để ông được chỉnh lí bìa đất theo hiện trạng thì đề nghị Tòa án buộc bà L tháo dỡ tài sản trên đất của ông hoặc đền bù cho ông diện tích đất trên theo giá trị hiện hành.
Ý kiến của bị đơn bà Nguyễn Thị L: Bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Thái Doãn Đ.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T: Bà T đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông nguyên đơn ông Thái Doãn Đ.
Tại bản tự khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Doãn T1 trình bày: Thửa đất hiện nay có diện tích 1041,5 m² là do ông bà nội của anh tặng cho bà L và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng năm 2013, bà L cho anh về ở trên đất diện tích anh không biết bao nhiêu. Anh đã xây nhà 2 tầng và các công trình khác ở trên đất và có khuôn viên tách biệt với đất bà L. Anh chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hiện nay có phần tranh chấp đất có liên quan đến anh. Anh không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Đ và anh khẳng định không có việc lấn đất. Anh yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Nếu bên anh lấn đất ông Đ, anh nhất trí phải trả lại.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Thái Thị H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Thái Doãn Đ, buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho ông Đ số tiền tương ứng với diện tích đất 6,4 m² lấn sang là 9.600.000 đồng.
Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Ông Đ đã nộp và không yêu cầu bà L trả lại, do đó đề nghị không xem xét.
Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền thụ lý vụ án và quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của ông Thái Doãn Đ yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả lại diện tích đất đang lấn chiếm là tranh chấp về quyền sử dụng đất và có đương sự khi thụ lý vụ án đang ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Bị đơn bà Nguyễn Thị L; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Thái Doãn T1, chị Thái Thị H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung: Xét nội dung khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bà Nguyễn Thị L trả lại 6,4 m² đất tại thửa đất số 204, tờ bản đồ số 36 có địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Xét về nguồn gốc sử dụng đất của các chủ sử dụng đang tranh chấp:
[2.1.1] Đối với thửa đất số 204, tờ bản đồ số 36, địa chỉ tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Thái Doãn Đ, bà Nguyễn Thị T:
Theo sổ mục kê (lập năm 1997), thửa đất số 24, tờ bản đồ số 36 có số hiệu là thửa đất số 819, tờ bản đồ số 3, diện tích 970 m² (200 m² đất ở, 770 m² đất vườn), chủ sử dụng đất là Thái Doãn Đ.
Theo sổ địa chính lập ngày 26/12/1997 thể hiện chủ sử dụng đất Thái D, sinh năm 1956 vợ Nguyễn Thị T sử dụng thửa đất số 819, tờ bản đồ số 3, diện tích 970 m² (200 m² đất ở, 770 m² đất vườn), được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 05/01/1996.
Ngày 08/8/2012, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 085935 đối với thửa đất số 24, tờ bản đồ số 36, diện tích 1034,8 m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mang tên ông Thái Doãn Đ và bà Nguyễn Thị T.
Năm 2016, ông Thái Doãn Đ và bà Nguyễn Thị T làm thủ tục tách thửa đất số 24 thành 02 thửa là thửa đất số 204, tờ bản đồ số 36, diện tích 681,6 m², người sử dụng đất là ông Thái Doãn Đ, bà Nguyễn Thị T và thửa đất số 203, tở bản đồ số 36, diện tích 353,2 m², người sử dụng đất là Thái Doãn C, Lê Thị N và đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[2.1.2] Đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ 36, diện tích 1041,5 m² (200 m² đất ở và 841,5 m² đất trồng cây lâu năm) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị L:
Theo sổ mục kê (lập năm 1997), thửa đất số 23, tờ bản đồ số 36 có số hiệu là thửa đất số 819, tờ bản đồ số 3, diện tích 1000 m² (200 m² đất ở, 800 m² đất vườn), chủ sử dụng đất là Thái Doãn Tam .
Theo sổ địa chính lập ngày 26/12/1997 được lưu giữ tại Ủy ban nhân dân xã N thể hiện: Chủ sử dụng đất Thái D, sinh năm 1926, vợ Thái Thị T2; sử dụng thửa đất 819, tờ bản đồ số 3, đất ở: 200 m², đất vườn: 800 m² được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu ngày 05/01/1996 mang tên ông Thái Doãn Tam .
Ngày 10/9/2012, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 581687 đối với thửa đất số 23, tờ bản đồ số 36, diện tích 1041,5 m² tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mang tên bà Trần Thị T3.
Ngày 05/11/2014, bà Trần Thị T3 làm hợp đồng tặng cho bà Nguyễn Thị L thửa đất trên.
Ngày 05/01/2015, Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 351598 đối với thửa đất số 23, tở bản đồ số 36, diện tích 1041.5 m² (200 m² đất ở và 841,5 m² đất vườn) tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An mang tên bà Nguyễn Thị L.
[2.2] Về thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các thửa đất ông Thái Doãn Đ và bà Nguyễn Thị L:
Theo cung cấp Ủy ban nhân dân xã N thì tại Ủy ban nhân dân xã N không có bản đồ đo đạc theo Nghị định 64 về đất thổ cư (đất ở). Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho ông Thái Doãn Đ và các hộ dân khác được căn cứ vào số liệu của bản đồ 299 (có số liệu về diện tích của tổng thửa đất của nhiều hộ sử dụng nhưng không có hình thể và kích thức cạnh của từng thửa đất).
Năm 2012, cả hai hộ ông Thái Doãn Đ và bà Trần Thị T3 đều được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, theo số liệu đo đạc mới thì diện tích cả hai hộ đều tăng lên, cụ thể thửa đất của ông Đ theo số liệu của bản đồ 299 diện tích là 819 m² tăng lên 1034,8 m², thửa đất của bà T3 theo số liệu của bản đồ 299 diện tích là 1000 m² tăng lên 1041,5 m². Tại hồ sơ thể hiện xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, thửa đất của ông Thái Doãn Đ ở từ năm 1976, thửa đất của bà Trần Thị T3 ở từ năm 1968 không thu tiền sử dụng đất, cả hai thửa đất đều phù hợp quy hoạch, không có tranh chấp, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1996. Bản mô tả ranh giới, mốc giới các thửa đất được các đương sự ký và nhận không có ý kiến gì, do đó các thửa đất đã được xác định ranh giới theo bản mô tả này, là căn cứ để Ủy ban nhân dân huyện N cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình của ông Thái Doãn Đ và hộ gia đình bà Trần Thị T3.
Năm 2015, bà Trần Thị T3 làm thủ tục tặng cho thửa đất số 23, tờ bản đồ 36, diện tích 1041,5 m² cho con dâu là bà Nguyễn Thị L, bà L được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này, diện tích không thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Trần Thị T3 năm 2012.
Năm 2016, ông Thái Doãn Đ làm thủ tục tách thửa cho con trai, thửa đất số 24 được tách thành 02 thửa là thửa đất số 204, tờ bản đồ số 36, diện tích 681,6 m², người sử dụng đất là ông Thái Doãn Đ, bà Nguyễn Thị T và thửa đất số 203, tở bản đồ số 36, diện tích 353,2 m², người sử dụng đất là Thái Doãn C, Lê Thị N và đã được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tổng diện tích hai thửa đất được tách không thay đổi so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Thái Doãn Đ và bà Nguyễn Thị T.
Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho các thửa đất 23, 24 tờ bản đồ số 36 của hai gia đình gia đình đều đảm bảo theo đúng trình tự quy định pháp luật. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào ranh giới theo quyết định của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm căn cứ giải quyết tranh chấp.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24/01/2023 và đo đạc hiện trạng sử dụng đất của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N, thể hiện hiện trạng sử dụng của hai hộ gia đình ông Thái Doãn Đ và bà Nguyễn Thị L, hộ bà Nguyễn Thị L đã xây lấn sang phần đất của gia đình ông Thái Doãn Đ là 6,4 m².
Cụ thể: Tại thửa đất số 204 thuộc quyền sử dụng của ông Thái Doãn Đ ở cạnh phía tiếp giáp thửa đất số 23 thuộc quyền sử dụng bà Nguyễn Thị L, bà L cho cháu là anh Thái Doãn T1 xây dựng một ngôi nhà 02 tầng chồng lấn lên phần đất trống của ông Đ được xác định bởi các điểm 9, 10, 11, 12, 15,14, 13, 9 tổng diện tích phần đất gia đình bà L xây dựng lấn có diện tích 6,4 m². Vì vậy cần buộc ông bà Nguyễn Thị L trả lại phần diện tích đất 6,4 m² cho ông Đ. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử thấy rằng, phần đất bà L lấn chiếm của ông Đ có diện tích nhỏ, nếu buộc tháo dỡ sẽ ảnh hưởng đến kết cấu ngôi nhà, thiệt hại cho gia đình bà L, hơn nữa quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, ông Đ đều đề nghị Hội đồng xét xử buộc bà L trả lại đất và ông đồng ý nhận giá trị bằng tiền theo giá của Hội đồng định giá, do đó cần chấp nhận sự tự nguyện này của ông Đ.
Theo biên bản định giá tài sản ngày 26/01/2022 xác định thì phần diện tích đất tranh chấp của các thửa đất trên có giá 1.500.000 đ/m2 x 6,4 m² = 9.600.000 đồng.
Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Thái Doãn Đ, buộc bà Nguyễn Thị L trả cho ông Đ số tiền 9.600.000 đồng tương ứng với diện tích đất 6,4 m² bà L lấn sang thửa đất số 204, tờ bản đồ số 36 tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An của ông Thái Doãn Đ.
[3] Về chi phí tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Thái Doãn Đ đã nộp tạm ứng chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ và đã thanh toán xong. Nay phía nguyên đơn không có yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị L phải có nghĩa vụ thanh toán chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Thái Doãn Đ khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 157, Điều 158, Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 160, Điều 161, Điều 164, Điều 166, Điều 174 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Thái Doãn Đ.
- - Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả cho ông Thái Doãn Đ số tiền 9.600.000 (Chín triệu sáu trăm ngàn) đồng (tương đương 6,4 m² đất).
- - Giao cho bà Nguyễn Thị L được quyền sử dụng 6,4 m² đất thuộc thửa đất số 204, tờ bản đồ số 36, tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, trị giá 9.600.000 đồng, được xác định bởi các điểm 9, 10, 11, 12, 15,14, 13, 9 (Có sơ đồ kèm theo).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các đương sự có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục theo quy định pháp luật về đất đai để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Về án phí: Ông Thái Doãn Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Trong trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 21/2024/DS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 21/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”
