Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 21/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 22 - 7-2024

V/v: “chia tài sản chung sau ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.

- Các Thẩm phán: ông Trần Thanh Tòng; ông Nguyễn Văn Bình.

Thư ký phiên tòa: ông Lâm Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thị Thuỷ Tiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2024/TLPT-DS, ngày 21 tháng 5 năm 2024, về “chia tài sản sau ly hôn”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: bà Trần Thị Túy P, sinh năm 1965; địa chỉ: Đường L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; cư trú tại: Ô, khu phố T, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2. Bị đơn: ông Phạm Văn M, sinh năm 1968; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện theo ủy quyền của ông M: anh Tăng Quốc T, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Cụ Phạm Văn T1, sinh năm 1948; địa chỉ: Tổ B, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2

3.2. Cụ Dư Thị Ú, sinh năm 1945; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện theo ủy quyền ông T1, bà Ú: anh Vũ Xuân C, sinh năm 1983; địa chỉ: Số C, đường T, khu phố E, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 21-3-2023); có mặt.

3.3. Công ty Cổ phần X;

Địa chỉ: Số D, đường U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp cho Công ty cổ phần X: bà Lê Thị Thanh T2, sinh năm 1990; địa chỉ: Số F, Đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3.4. Bà Phạm Thị T3, sinh năm 1975; có đơn xin giải quyết vắng mặt;

3.5. Anh Nguyễn Trọng V, sinh năm 1997; có đơn xin giải quyết vắng mặt;

Bà T3, anh V cùng địa chỉ: E, C, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Nguyên đơn bà Trần Thị Túy P trình bày:

Bà và ông M chung sống với nhau từ năm 1997, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn G, đã ly hôn theo Bản án số 19/2019/HNGĐ-PT ngày 06-8-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Khi ly hôn, bà và ông M đã giải quyết một số tài sản chung của vợ chồng, nhưng còn phần đất diện tích 300 m² gồm 03 lô đất, vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở rạch Bà T, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. 03 lô đất này là tài sản chung của bà và ông M được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân theo hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0258, 0259, 0260 ngày 23-7-2010. Giữa ông MCông ty cổ phần X (gọi tắt là Công ty X) theo các Phiếu thu số 28/7, 29/7, 30/7 ngày 23-7-2010, thì ông M đã thanh toán mỗi lô đất số tiền 783.000.000 đồng.

Mặc dù bà và ông M chưa thỏa thuận giải quyết về tài sản chung của vợ chồng đối với 03 lô đất nêu trên nhưng ông M đã tự ý xây dựng nhà trên các phần đất này.

Nay bà khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn với ông M đối với 03 lô đất nói trên, cụ thể: bà yêu cầu được nhận 01 lô đất, giao cho ông M 02 lô, ông M có trách nhiệm thanh toán cho bà ½ giá trị của 01 lô đất, đồng thời, bà đồng ý thanh toán lại giá trị căn nhà trên lô đất của bà được hưởng cho ông M.

* Đại diện theo ủy quyền của bị đơn, anh Tăng Quốc T trình bày:

3

Thống nhất với lời trình bày của bà P về thời gian sống chung, thời gian ly hôn giữa ông M và bà P.

Đối với phần đất diện tích 300 m² gồm 03 lô đất, vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở rạch Bà T, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh: Cha mẹ ông M là cụ Phạm Văn T1, cụ Dư Thị Ú tích lũy được 01 khoản tiền dùng vào việc mua bán đất đai, đầu tư kinh doanh. Khoảng tháng 7-2010, do cụ Ú, cụ T1 lớn tuổi, đi lại khó khăn nên thỏa thuận nhờ ông M (có nhà ở Thành phố Hồ Chí Minh) đứng tên 03 hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 0258, 0259, 0260 với Công ty X. Ông M không có thanh toán cho Công ty X, cụ Ú, cụ T1 có đưa cho em trai của ông MPhạm Văn T4 số tiền 8.099.000.000 đồng để thanh toán tiền mua đất cho Công ty X. Hiện tại 03 lô đất này vẫn được Công ty cổ phần X đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ).

Sau khi mua đất, cụ Ú, cụ T1 có đưa ông M số tiền 7.256.773.794 đồng để xây dựng 03 căn nhà phố liền kề trên 03 lô đất với Công ty X và thỏa thuận sau khi xây dựng hoàn thành sẽ sang tên hợp đồng mua bán trả lại cho cụ Ú, cụ T1 đứng tên để hoàn công.

Do nhà, đất nói trên là tài sản của cụ Ú, cụ T1 bỏ tiền ra chuyển nhượng và xây dựng nên ông M yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 300 m² gồm 03 lô đất, vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở rạch Bà T, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và toàn bộ tài sản trên đất là của cụ Ú, cụ T1.

* Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Vũ Xuân C trình bày:

Cụ Ú, cụ T1 có 05 người con: Phạm Văn M, Phạm Văn T5, Phạm Văn T4, Phạm Thị Thanh T6, Phạm Thị T3. Trong quá trình chung sống, cụ Ú, cụ T1 đã tích lũy được một khoản tiền để kinh doanh bất động sản. Khoảng tháng 7-2020, do đã lớn tuổi, đi lại khó khăn nên hai cụ nhờ con là Phạm Văn M (chồng bà P) đứng tên mua giùm phần đất diện tích 300 m² gồm 03 lô đất, vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở Rạch B, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh của bà Nguyễn Thị Tuyết M1 (đất này bà M1 mua của Công ty X chưa làm giấy tờ nên sau khi mua của bà M1, bà M1 yêu cầu ông M1 làm hợp đồng trực tiếp với Công ty X), giá chuyển nhượng 3.200.000.000 đồng/lô x 3 lô = 9.600.000.000 đồng nhưng trong hợp đồng ghi 870.000.000 đồng/lô, hai cụ đã đưa số tiền 8.099.000.000 đồng (có chứng từ ủy nhiệm chi chuyển tiền thanh toán qua Ngân hàng S CN B ngày 23-7-2010) cho con là Phạm Văn T4 thanh toán tiền mua đất cho bà M1. Sau khi mua diện tích đất nói trên, vợ chồng cụ Ú, cụ T1 tiếp tục bỏ ra số tiền 7.256.773.794 đồng để xây dựng 03 căn nhà phố liền kề với Công ty X. Ngày 29-5-2020, Công ty cổ phần X đã hoàn thành xây dựng, có biên bản nghiệm thu hoàn thành và bàn giao xây dựng cho vợ chồng hai cụ, hiện đất này cụ T1, cụ Ú quản lý cho thuê.

4

Trong quá trình giải quyết ly hôn giữa ông M1, bà P thì cụ T1, cụ Ú cũng có khởi kiện về việc tranh chấp 03 lô đất này. Tuy nhiên, thời điểm đó, đất chưa có GCNQSDĐ, chưa xác định được vị trí, tứ cận nên cụ Ú, cụ T1 đã rút lại yêu cầu khởi kiện.

Do phần đất diện tích 300 m² gồm 03 lô đất, vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở Rạch B, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và toàn bộ công trình trên đất là tiền của cụ Ú, cụ T1 bỏ ra mua và xây dựng, chỉ nhờ ông M1 đứng ra giao dịch giùm chứ không phải là tài sản của ông M1. Cụ Ú, cụ T1 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P. Đồng thời, yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 300 m² gồm 03 lô đất, vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở rạch Bà T, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và toàn bộ tài sản trên đất là của cụ Ú, cụ T1.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, đại diện Công ty Cổ phần X có văn bản trình bày:

Công ty X và ông Phạm Văn M đã ký kết các hợp đồng thỏa thuận mua bán nhà ở và chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Phụ lục hợp đồng xây dựng nhà ở đối với căn S24, S25, S26 thuộc dự án Khu nhà ở rạch Bà T7. Hiện tại, các căn nhà đã hoàn thiện việc xây dựng. Ngày 03-01-2022, ông M đã có đơn đề nghị tự thực hiện thủ tục hoàn công và cấp Giấy chứng nhận đối với 03 lô đất nói trên. Ngày 04-01-2023, công ty và ông M đã ký kết biên bản thanh lý các hợp đồng và phụ lục hợp đồng nêu trên. Đồng thời, ông M cũng đã thanh toán đủ giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giá trị xây dựng cho công ty, công ty đã giao bản chính GCNQSDĐ (do công ty đứng tên) và hóa đơn giá trị gia tăng cho ông M để ông M tự thực hiện thủ tục hoàn công và cấp giấy chứng nhận. Do đó, công ty không còn bất kỳ nghĩa vụ nào đối với ông M liên quan đến các hợp đồng và phụ lục nêu trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, bà Phạm Thị T3 có văn bản trình bày:

Vào tháng 4-2023, ông M có giao cho chị và con trai tên Nguyễn Trọng V quản lý, sử dụng 03 căn nhà trên 03 lô đất S25, S26, S27, chị kinh doanh quán ăn tên Bánh canh Thảo U, hai bên chỉ thỏa thuận bằng lời nói, không có lập hợp đồng. Chị không có tu sửa, thay đổi kết cấu căn nhà. Việc tranh chấp giữa bà P, ông M thì chị không có ý kiến gì, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, anh Nguyễn Trọng V có văn bản trình bày: Anh là con trai của bà Phạm Thị T3, anh thống nhất theo lời trình bày của bà T3, không trình bày bổ sung gì thêm.

*Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/ST-DS ngày 03-4-2024 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu đã quyết định:

5

  • - Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Túy P đối với ông Phạm Văn M về việc “chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn”.
  • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của cụ Phạm Văn T1, cụ Dư Thị Ú đối với ông Phạm Văn M, bà Trần Thị Túy P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Cụ Phạm Văn T1 và cụ Dư Thị Ú được quyền quản lý, sử dụng 03 phần đất cụ thể như sau:
    • + Phần đất diện tích 100,5 m², thuộc thửa số 1312, tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
    • Trên đất có một căn nhà 01 hầm, 01 trệt, 03 lầu.
    • + Phần đất diện tích 100,4 m², thuộc thửa số 1313, tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
    • Trên đất có một căn nhà 01 hầm, 01 trệt, 03 lầu.
    • + Phần đất diện tích 100,4 m², thuộc thửa số 1316, tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
    • Trên đất có một căn nhà 01 hầm, 01 trệt, 03 lầu.
  • Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.

- Ngày 05-4-2024, bà P kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận khởi kiện của bà. Chia cho bà ½ diện tích 03 thửa đất trên.

* Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bà P trình bày: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện chia tài sản chung và yêu cầu kháng cáo.
  • - Anh T (đại diện ông M) trình bày: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
  • - Anh C (đại diện cho cụ T1, cụ Ú) trình bày: không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

* Phần tranh luận

  • - Bà P trình bày: đất tranh chấp là tài sản chung của bà và ông M, không phải của Cụ Ú, cụ T1. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà.
  • - Ông T trình bày: đất này của cụ Ú, cụ T1 nhờ ông M mua của bà M tiền do anh T4 trả.
  • - Ông C trình bày: đất bà P tranh chấp là của cụ T1, cụ Ú nhờ ông M mua giùm, chứng cứ trả tiền do anh T4 chuyển khoản cho bà M.

* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng

6

xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: ông M, cụ T1, cụ Ú không có căn cứ chứng minh đất tranh chấp là tài sản riêng. Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm. Chia 03 lô đất trên theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: bà P kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đại diện Công ty X, bà T3, anh V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: bà P khởi kiện yêu cầu ông M chia tài sản chung phần đất diện tích 300 m² vị trí Block S, số lô S25, S26, S27, tọa lạc tại khu nhà ở rạch Bà T, ấp E, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông M cho là phần đất trên là do ông mua giùm cho cụ T1, cụ Ú (cha mẹ ông) không phải tài sản chung giữa ông và bà P nên không đồng ý chia. Các đương sự thoả thuận giá trị tài sản tranh chấp (03 thửa đất nêu trên) là 30 tỷ đồng. Không tranh chấp nhà trên đất.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo bà P thấy rằng:

[3.1] Về chứng cứ: mặc dù các phần đất nêu trên do ông M đứng tên chuyển nhượng với Công ty X vào năm 2010 (trong thời gian ông MP còn quan hệ vợ chồng). Tuy nhiên, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 03 lô đất nói trên chỉ thể hiện bên nhận chuyển nhượng là ông M, không có bà P cùng đứng tên trong hợp đồng. Bà P trình bày tiền mua do bà trả nhưng hoá đơn thanh toán cũng do ông M trả, bà P cũng không chứng minh được nguồn tiền để mua đất.

[3.2.] Mặt khác, trong vụ án “Ly hôn, chia tài sản chung” giữa bà P, ông M vào năm 2019, cụ Ú, cụ T1 có trình bày: vào ngày 21-7-2010, cụ Ú, cụ T1 có nhờ anh M đứng tên mua giùm một phần đất diện tích 120 m² thuộc thửa 887-20 và phần đất diện tích 120 m² thuộc thửa 887-21, tờ bản đồ số 06, toạ lạc tại ấp D, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, cụ Ú, cụ T1 cũng nhờ ông T4 trả tiền cho chủ sử dụng đất thông qua Ngân hàng. Tại Bản án Hôn nhân Gia đình sơ thẩm số 08/2019/HNGĐ-ST ngày 01-3-2019 của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu và Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm số 19/2019/HNGĐ-PT ngày 06-8-2019 của Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh quyết định: Công nhận hai phần đất diện tích 120 m² thửa 887-20 và phần đất diện tích 120 m² thửa 887-21 cho cụ Ú, cụ T1 được quyền quản lý, sử dụng. Sau khi xét xử, bà P không có ý kiến hay khiếu nại gì. Cũng trong vụ án “Ly hôn, chia tài sản chung” giữa bà P, ông M, thì bà P và ông M đều thừa nhận trước đây ông M cũng có đứng tên giùm

7

cho em ruột bà PTrần Thị Phượng L một phần đất diện tích 9.155 m², gồm các thửa 103, 104, 105, 106, 109, 110, 111, 112 tờ bản đồ số 07, toạ lạc tại ấp C, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Qua xác minh, chị L thừa nhận có việc này.

Như vậy, trong thời kỳ hôn nhân của bà P, ông M, thì ông M có đứng tên giùm nhiều phần đất cho cụ Ú, cụ T1, bà L điều này đã được ghi nhận trong bản án đang có hiệu lực và được các đương sự đều thừa nhận.

[3.3] Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bà P, đại diện theo uỷ quyền của ông M đều xác nhận các công trình xây dựng trên đất không phải tài sản chung của bà P và ông M. Ông M cho rằng, sau khi nhận chuyển nhượng đất, cụ Ú, cụ T1 đã tiếp tục giao tiền cho ông, nhờ ông ký hợp đồng với công ty X để xây dựng 03 căn nhà trên 03 phần đất nói trên, nên có cơ sở xác định 03 căn nhà là của cụ Ú, cụ T1 bỏ tiền ra xây dựng. Việc cụ Ú, cụ T1 xây nhà trên 03 phần đất này, ông M, bà P không có ý kiến hay khiếu nại gì. Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, chấp nhận yêu cầu độc lập của cụ T1, cụ Ú công nhận 03 phần đất diện tích 100,5 m², thuộc thửa số 1312, phần diện tích 100,4 m², thuộc thửa số 1313; phần diện tích 100,4 m², thuộc thửa số 1316, cùng tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh do ông M đứng tên giùm cho cụ T1, cụ Ú là có căn cứ. Bà P kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ gì mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên toà không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không chấp nhận.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Án phí dân sự phúc thẩm: bà P phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết 326.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Túy P;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 24/2024/DS-ST ngày 03 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 33, 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Túy P đối với ông Phạm Văn M về việc “chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn”.

8

2. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của cụ Phạm Văn T1, cụ Dư Thị Ú đối với ông Phạm Văn M, bà Trần Thị Túy P về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”; cụ Phạm Văn T1 và cụ Dư Thị Ú được quyền sử dụng 03 phần đất cụ thể như sau:

  • 2.1. Phần đất diện tích 100,5 m², thuộc thửa số 1312, tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
  • Trên đất có một căn nhà 01 hầm, 01 trệt, 03 lầu.
  • 2.2. Phần đất diện tích 100,4 m², thuộc thửa số 1313, tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
  • Trên đất có một căn nhà 01 hầm, 01 trệt, 03 lầu.
  • 2.3. Phần đất diện tích 100,4 m², thuộc thửa số 1316, tờ bản đồ số 141; tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, (có sơ đồ, bản vẽ kèm theo).
  • Trên đất có một căn nhà 01 hầm, 01 trệt, 03 lầu.

Căn cứ vào bản án này cụ Phạm Văn T1, cụ Dư Thị Ú, ông Phạm Văn M, Công ty Cổ phần X có nghĩa vụ liên hệ đến các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, để thực hiện việc đăng ký biến động đất đai theo quy định tại Điều 95 của Luật Đất đai.

3. Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ: bà Trần Thị Túy P phải chịu 32.809.754 đồng, ghi nhận bà P đã nộp thanh toán xong.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

  • 4.3. Bà Trần Thị Túy P phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ số tiền 59.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0025273 ngày 09-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Hoàn trả cho bà P số tiền 58.700.000 (năm mươi tám triệu, bảy trăm nghìn) đồng.
  • 4.1. Cụ Phạm Văn T1, cụ Dư Thị Ú được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
  • 4.2. Ông Phạm Văn M không phải chịu.

5. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trần Thị Túy P1 phải chịu 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0013819 ngày 05-4-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu.

6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

9

Nơi nhận:

  • - TAND CC;
  • - VKSNDCC;
  • - TAND h Gò Dầu;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - CC.THADS huyện Gò Dầu;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 21/2024/HNGĐ-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về chia tài sản chung sau ly hôn

  • Số bản án: 21/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: chia tài sản chung sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản sau ly hôn giữa bà P đối với ông M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger