| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 21/2022/HS-ST Ngày 31-5-2022 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Xuân Đàm;
Hội Thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thắng, bà Hoàng Thị Lệ Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Các Kiểm sát viên ông Nguyễn Văn Luyện và ông Nguyễn Thế Quân.
Ngày 31 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 02 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Phạm Văn B, sinh ngày 02/02/1995 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký NKTT: Thôn H, xã Phong Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: Thôn H1, xã Phong Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: chưa có; Học vấn: 8/12; con ông Phạm Thanh L (đã chết) và bà Trương Thị Th; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 29/9/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; ngày 31/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tổng hợp hình phạt, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 năm 11 tháng 09 ngày tù, đã chấp hành xong ngày 16/02/2019.
Ngày 11/7/2021 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, bị tạm giữ và chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Nguyễn Xuân N, sinh ngày 11/6/1996 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn H, xã Phong Hải, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: chưa có; Học vấn: 8/12; con ông Nguyễn Ng, và bà Hoàng Thị L; chưa có vợ con; Có 01 tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Từ nhỏ sống với bố mẹ tại thôn H, xã Phong Hải. Ngày 31/10/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 10.000.000.đ về tội “Đánh bạc”; hiện chưa thi hành. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/11/2021 đến nay, có mặt tại phiên toà.
- Người làm chứng: Anh Trần Văn S, sinh năm 1997; anh Nguyễn Xuân Ch, sinh năm 2003; chị Trương Thị Kim Ph, sinh năm 2000.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu chứng cư có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích mua trái phép chất ma túy để sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, khoảng 13h30 ngày 10/7/2021, Phạm Văn B điện thoại cho Nguyễn Xuân N để nhờ N chở B vào thành phố Huế mua ma túy. N đồng ý và sử dụng xe môtô mang Biển số 75H5-8223 chở B đến đường Đặng Tất, thành phố Huế gặp 02 người đàn ông tên Liêm và Loa. B hỏi mua ma túy và Loa đưa cho B 01 gói ma túy với giá 1.000.000.đ. B trả tiền, nhận gói ma túy rồi đưa cho N, N giấu gói ma túy trong khẩu trang rồi đeo lên mặt, sau đó N chở B về lại xã Phong Hải. Sau đó B chia tách gói ma túy vừa mua thành 15 gói nhỏ và cất dấu trong phòng ngủ.
Đến 18 giờ cùng ngày, N đến nhà B - chở B và bạn gái của B là Trương Thị Kim Ph đến quán ở xã Điền Hải để ăn tối, rồi cả 3 về lại nhà B. Tại đây, B lấy ra 01 gói nhỏ ma túy và bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi cùng N sử dụng. Sau đó có Trần Văn S và Nguyễn Xuân Ch cùng vào sử dụng ma túy chung với B và N.
Đến khoảng 10h ngày 11/7/2021, N, S tiếp tục qua nhà B và cùng nhau sử dụng hết số ma túy còn lại. Sau đó B bảo N chở B đi mua cơm, khi đến trước cổng thôn Hải Nhuận, xã Phong Hải thì bị Tổ công tác Đồn Biên phòng phát hiện bắt quả tang B đang cất giữ trong người 02 gói ma túy. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của B phát hiện thu giữ thêm 12 gói ma túy và 01 bộ dụng cụ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có yêu cầu hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Văn B và Nguyễn Xuân N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ và vật chứng của vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận: Phạm Văn B đã phạm vào hai tội, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đối với Nguyễn Xuân N, mặc dù không bỏ tiền ra mua ma túy nhưng N biết rõ và cùng ý chí với B khi vào Huế là để mua ma túy về cất giữ để B và N cùng nhau sử dụng, do đó N đồng phạm với B về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Đối với Phạm Văn B: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 55 của Bộ luật Hình sự hiện hành.
Tuyên bố: Phạm Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt Phạm Văn B 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Tổng hợp hình phạt: Bị cáo Phạm Văn B phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 11/7/2021.
2. Đối với Nguyễn Xuân N: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự hiện hành;
Tuyên bố: Nguyễn Xuân N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt Nguyễn Xuân N 18 (mười tám) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 26/11/2021.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 gói và một phong bì đã được niêm phong; 64 ống thủy tinh; 01 cân tiểu ly; 01 cái kéo. Tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Samsung đã qua sử dụng.
4. Về án phí: Buộc Phạm Văn B và Nguyễn Xuân N mỗi bị cáo phải nộp 200.000.đ án phí hình sự sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Hồ Xuân Đàm |
Bản án số 21/2022/HS-ST ngày 31/05/2022 của Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 21/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn B và Nguyễn Xuân Nam tàng trữ trái phép chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
