TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2093/2024/DS – ST.
Ngày: 28 – 5 – 2024
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng
- Ông Nguyễn Cửu Long
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1872/2023/TLST-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2082/2024/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2781/2024/QĐST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Á;
Địa chỉ trụ sở: Số D N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên hệ: Lầu 8, Tòa nhà A, Số D C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện ủy quyền: Bà Kpă H (theo giấy ủy quyền số 2038/UQ-QLN.23 ngày 27/10/2023)
- Bị đơn: Ông Trần Văn H1, sinh năm: 1973;
Địa chỉ: A đường E, Khu dân cư S, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Bà Kpă H có mặt, ông H1 vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 08 tháng 8 năm 2023 của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần Á, bản tự khai và trong quá trình xét xử người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Kpă H trình bày:
Ngày 22/3/2022, Ngân hàng TMCP Á (gọi tắt là A) và ông Trần Văn H1 có ký Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân. Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum 4365991001058933, với hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 27%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 99.995.885 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông H1 đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 7.559.541 đồng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông H1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 31/10/2022, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Do đó, Ngân hàng khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây: Buộc ông Trần Văn H1 phải thanh toán cho A số tiền tính đến ngày 28/5/2024 như sau:
- Nợ gốc: 92.432.344 đồng
- Phí: 7.061 đồng,
- Lãi trong hạn: 13.210.561 đồng,
- Phạt chậm trả: 1.248.722 đồng.
- Nợ lãi quá hạn: 63.750.686 đồng
Tổng cộng: 170.653.374 đồng.
Tiền lãi tiếp tục phát sinh từ ngày 29/5/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngay khi Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Trần Văn H1 mặc dù đã được tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt từ lúc thụ lý vụ án cho đến trước phiên tòa hôm nay và cũng không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa:
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Ông Trần Văn H1 mặc dù đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý sơ thẩm và xét xử. Về phía các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền của mình theo Bộ luật tố Tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, thời hạn xét xử đã quá so với thời gian quy định, kiến nghị rút kinh nghiệm.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ngân hàng TMCP Á yêu cầu ông Trần Văn H1 phải thanh toán tiền cho Ngân hàng theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 22/3/2022 nên đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015.
Do bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là ông Trần Văn H1 đã được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự trên.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H1 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 92.436.344 đồng.
Xét mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H1 đều vắng mặt và không gửi ý kiến, giấy tờ tài liệu liên quan đến tranh chấp nêu trên cho Tòa án, coi như từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình. Nên Hội đồng xét xử căn cứ trên các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để xem xét và đánh giá.
Căn cứ vào các tài liệu do nguyên đơn cung cấp bao gồm: Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 22/3/2022 và Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Á. Căn cứ thu nhập của ông H1, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng Visa Platinum 4365991001058933, với hạn mức sử dụng 100.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn 27%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Việc hai bên thỏa thuận mức lãi suất nêu trên là phù hợp với quy định tại Điều 4 và Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Chữ ký xác nhận đã nhận thẻ tín dụng của ông H1; Sao kê chi tiết của ông Trần Văn H1 nên có căn cứ xác định ông Trần Văn H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Á
Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng buộc ông H1 phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc là 92.436.344 đồng.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H1 phải thanh toán Phí: 7.061 đồng, L trong hạn: 13.210.561 đồng, P chậm trả: 1.248.722 đồng và N lãi quá hạn tính đến ngày 28/5/2024: 63.750.686 đồng
Căn cứ vào Điều 9 và Điều 11 của Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Á. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn phải thanh toán số tiền bao gồm phí: 7.061 đồng, lãi trong hạn: 13.210.561 đồng, phạt chậm trả: 1.248.722 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 28/5/2024: 63.750.686 đồng.
Tổng cộng ông H1 phải thanh toán cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 28/5/2024 số tiền 170.653.374 đồng, (trong đó: Nợ gốc: 92.432.344 đồng; Phí: 7.061 đồng; Lãi trong hạn: 13.210.561 đồng; Phạt chậm trả: 1.248.722 đồng; Nợ lãi quá hạn: 63.750.686 đồng)
Tiền lãi tiếp tục tính trên số dư nợ gốc tương ứng, kể từ ngày 29/5/2024 trở đi theo mức lãi suất quá hạn được quy định tại Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 22/3/2022 và Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Á cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận toàn bộ. Về thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử ghi nhận và rút kinh nghiệm.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Áp dụng vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 189, Khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Áp dụng khoản 2 Điều 155; Điều 429; Điều 463; Điều 466 và khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Áp dụng Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á.
Buộc ông Trần Văn H1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á tính đến ngày 28/5/2024 số tiền: 170.653.374 đồng (một trăm bảy mươi triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn ba trăm bảy mươi bốn đồng) theo Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 22/3/2022 và Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Á.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng dành cho khách hàng cá nhân ngày 22/3/2022 và Bản điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP Á cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.
- Về án phí: Ông Trần Văn H1 phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là 8.532.669 (tám triệu năm trăm ba mươi hai ngàn sáu trăm sáu mươi chín) đồng.
Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.366.030 (ba triệu ba trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm ba mươi) đồng theo Biên lai thu số AA/2023/0000567 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các đương sự thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nguyễn Cửu Long Phạm Thị Ngọc Dưỡng | Võ Thu Phương |
Bản án số 2093/2024/DS – ST. ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2093/2024/DS – ST.
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
