|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2092/2024/DS-ST
Ngày: 28 - 5 – 2024.
V/v Tranh chấp về đòi tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước.
- Bà Võ Thị Gái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 852/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp về đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 2562/2024/QĐXXST-DS ngày 02/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Phương D.
Địa chỉ: Số F V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Trúc L, sinh năm: 1991, địa chỉ: Căn hộ S Lô C, chung cư B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số công chứng: 020216, quyển số: 09/2022 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C ngày 20/09/2022).
Bị đơn: Công ty Cổ phần B.
Trụ sở: Số A đường C, khu phố B, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Nam H, địa chỉ: Số D K, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh – Là đại diện theo pháp luật.
Bà Huỳnh Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Phương D có bà Huỳnh Thị Trúc L là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ngày 24/6/2022, bà D và Công ty Cổ phần B (sau đây gọi tắt là Công ty B) có ký kết Biên bản thanh lý hợp đồng với nội dung: các bên thỏa thuận thanh lý “Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc” số 004/2021/TTĐC/APT-PC ngày 03/02/2021. Theo nội dung thỏa thuận tại Biên bản nêu trên, Bị đơn phải hoàn trả cho Nguyên đơn cụ thể như sau:
Đợt 1: Trả 155.000.000 đồng ngay khi ký biên bản thanh lý.
Đợt 2: Trả 154.389.432 đồng trong vòng 60 ngày kể từ ngày 24/6/2022. Nếu Công ty B vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Biên bản thanh lý thì kể từ thời điểm vi phạm (ngày 24/8/2022), Công ty B phải hoàn trả đủ số tiền 351.578.900 đồng sau khi trừ đi số tiền mà Công ty B đã hoàn trả tại Đợt 1 cho bà D (khoản 2.2 Điều 2 của Biên bản thanh lý).
Ngay sau khi ký Biên bản thanh lý, cùng ngày 24/6/2022, Công ty B đã hoàn trả cho bà D số tiền Đợt 1 là 155.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá hạn 60 ngày kể từ ngày 24/6/2022, Công ty B vẫn chưa hoàn trả số tiền Đợt 2 là 154.389.432 cho bà D.
Theo Khoản 2.2 Điều 2 Biên bản thanh lý, khi vi phạm thỏa thuận thì Công ty B phải hoàn trả cho bà D số tiền còn lại là 196.578.900 đồng (được xác định: 351.578.900 đồng – 155.000.000 đồng = 196.578.900 đồng).
Mặc dù bà D đã 03 lần gửi thông báo (bằng email và EMS) yêu cầu Công ty B hoàn trả số tiền 196.578.900 đồng lần lượt vào các ngày 27/8/2022, 06/9/2022, 16/9/2022, trong đó tại Thông báo ngày 16/9/2022 có gia hạn cho bị đơn thời hạn trả tiền đến hết ngày 20/9/2022. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện nay, bà D không nhận được bất cứ phản hồi nào cũng như chưa nhận được tiền từ Công ty B.
Do đó, căn cứ quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự, bà D khởi kiện buộc Công ty B trả cho bà D số tiền 196.578.900 đồng, thanh toán tiền lãi theo lãi suất 10%/năm cho bà D trên số tiền vi phạm tính từ ngày Công ty B vi phạm nghĩa vụ hoàn trả tiền theo thông báo, cụ thể là tính từ ngày 21/9/2022 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 28/5/2024 (615 ngày): (10% : 365 ngày) * 615 ngày * 196.578.900 đồng = 33.122.198 đồng. Tổng cộng số tiền bà D yêu cầu Công ty B thanh toán tính đến ngày 28/5/2024 là: 196.578.900 đồng + 33.122.198 đồng = 229.701.098 đồng.
Bị đơn Công ty B và người đại diện hợp pháp đã được tống đạt, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng những vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Bị đơn đã vi phạm các nghĩa vụ trả tiền theo Biên bản thanh lý hợp đồng số 031/2022/BBTL-APT ký kết giữa các bên, do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho bà D số tiền gốc là: 196.578.900 đồng và tiền lãi tính đến ngày 28/5/2024 là: 33.122.198 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi chậm trả là: 229.701.098 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn bà Huỳnh Phương D khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty B trả khoản tiền mà bà D đã nộp cho bị đơn, sau đó các bên có thỏa thuận bị đơn phải trả lại cho bà D theo Biên bản thanh lý hợp đồng số 031/2022/BBTL-APT ký kết giữa các bên chứ không tranh chấp về quyền, nghĩa vụ theo Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc. Do đó, quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là : “Tranh chấp về đòi tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có trụ sở tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn Công ty B và đại diện theo pháp luật của bị đơn. Tuy nhiên, đại diện bị đơn vẫn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án và tại các phiên tòa sơ thẩm mà không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Huỳnh Thị Trúc L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Xét thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.
[3] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
Ngày 03/02/2021, bà D và Công ty B có ký Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc số 004/2021/TTĐC/APT-PC. Sau đó, ngày 24/6/2022, giữa các bên ký kết Biên bản thanh lý hợp đồng số 031/2022/BBTL-APT với nội dung thanh lý Hợp đồng thỏa thuận đặt cọc nêu trên và xác định phía Công ty B có nghĩa vụ thanh toán lại cho bà D số tiền bà D đã nộp vào Công ty B, thời hạn và phương thức thanh toán cụ thể như sau:
Đợt đầu: Ngay sau khi ký biên bản thanh lý: trả 155.000.000 đồng.
Đợt cuối: Trả 154.389.432 đồng trong vòng 60 ngày kể từ ngày các bên ký kết Biên bản thanh lý (ngày 24/6/2022).
Ngoài ra, các bên còn thống nhất thỏa thuận một số nội dung khác. Ngay sau khi các bên ký kết Biên bản thanh lý, phía bị đơn Công ty B đã trả cho bà D số tiền 155.000.000 đồng.
Xét nội dung các bên thỏa thuận trong Biên bản thanh lý hợp đồng số 031/2022/BBTL-APT ngày 24/6/2022 không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên tự nguyện ký kết, không bị ép buộc nên Biên bản thanh lý hợp đồng nêu trên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, phù hợp với quy định tại Điều 116, Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xét thấy, tại Biên bản thanh lý Hợp đồng, các bên thống nhất xác nhận bà D đã thanh toán cho Công ty B tổng số tiền là: 351.578.900 đồng, ngay sau khi các bên ký kết biên bản thanh lý thì Công ty B đã trả cho bà D số tiền 155.000.000 đồng, số tiền còn lại các bên thống nhất thỏa thuận tại khoản 1.2 và khoản 2.2 của Điều 2 như sau: trong vòng 60 ngày kể từ ngày hai bên ký kết biên bản thanh lý, Công ty B phải trả cho bà D là: 154.389.432 đồng, nếu Công ty B vi phạm nghĩa vụ trên thì Công ty B phải trả cho bà D số tiền là: (351.578.900 đồng – 155.000.000 đồng) = 196.578.900 đồng.
Phía bị đơn Công ty B đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền trong vòng 60 ngày, do đó việc bà D yêu cầu Công ty B phải trả số tiền 196.578.900 đồng là có cở sở để chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 280 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bà D trình bày trong thông báo yêu cầu trả tiền ngày 16/9/2022 có yêu cầu Công ty B trả khoản tiền 196.578.900 đồng, hạn cuối thanh toán là ngày 20/9/2022 nhưng Công ty B không thực hiện. Do đó, việc bà D yêu cầu Công ty B phải trả tiền lãi của số tiền 196.578.900 đồng theo lãi suất 10%/năm tính từ ngày 21/9/2022 đến ngày xét xét xử sơ thẩm là ngày 28/5/2024 (thời gian là 615 ngày) là phù hợp với quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở để chấp nhận. Tiền lãi cụ thể được tính như sau: 10%/năm X 615 ngày X 196.578.900 đồng = 33.122.198 đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn Công ty B phải trả cho bà D các khoản tiền tính đến ngày 28/5/2024 với tổng số tiền là: 229.701.098 đồng (trong đó tiền gốc là 196.578.900 đồng và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm 28/5/2024 là: 33.122.198 đồng).
[4] Về án phí và quyền kháng cáo:
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí. Nguyên đơn không phải chịu án phí.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 116, Điều 117, Điều 280, Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn bà Huỳnh Phương D:
Buộc bị đơn Công ty Cổ phần B có nghĩa vụ trả cho bà Huỳnh Phương D số tiền tính đến ngày 28/5/2024 là: 229.701.098 đồng (Hai trăm hai mươi chín triệu, bảy trăm lẻ một nghìn, không trăm chín mươi tám đồng), trong đó tiền gốc là 196.578.900 đồng (Một trăm chín mươi sáu triệu, năm trăm bảy mươi tám nghìn, chín trăm đồng) và tiền lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 28/5/2024) là: 33.122.198 đồng (Ba mươi ba triệu, một trăm hai mươi hai nghìn, một trăm chín mươi tám đồng), trả ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm là: 11.485.055 đồng (Mười một triệu, bốn trăm tám mươi lăm nghìn, không trăm năm mươi lăm đồng) bị đơn Công ty Cổ phần B phải chịu. Công ty Cổ phần B chưa nộp án phí.
Nguyên đơn bà Huỳnh Phương D không phải chịu án phí. H1 lại cho bà D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.914.472 đồng (Bốn triệu, chín trăm mười bốn nghìn, bốn trăm bảy mươi hai đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0006228 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 17/10/2022.
3. Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo:
Bà Huỳnh Phương D, Công ty Cổ phần B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 2092/2024/DS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về đòi tài sản
- Số bản án: 2092/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Phương D- Công Ty cổ phần B
