Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2023/DS-PT
Ngày: 30 - 10 - 2023
V/v “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Thành Tâm
Các Thẩm phán:Ông Huỳnh Châu Thạch
Ông Nguyễn Văn Đức

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 185/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 9 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 301/2023/QĐ-PT ngày 10/10/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 310/2023/QĐ-PT ngày 23/10/2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Cấn Văn D, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn L, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hồng T, sinh năm: 1961; địa chỉ: Số B Nguyên Tử L, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Văn bản ủy quyền ngày 07/3/2022.

  2. Bị đơn: Ông Da M, sinh năm: 1972; bà K, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà K: Bà Ra Em M1, sinh năm: 1974; địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

    Văn bản ủy quyền ngày 31/5/2022.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà K' R, sinh năm: 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
    2. Bà K' L, sinh năm: 1972; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
    3. Ông Cil Ha C, sinh năm: 1995; bà Mi K2, sinh năm: 1997; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
    4. Ông Liêng Hót Ha T1, sinh năm: 1999; bà Rô T2, sinh năm: 1998; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
    5. Ông Ha H, sinh năm: 1930; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
    6. Ông Lơ Mu Jô L1, sinh năm: 2002; địa chỉ: Thôn Đ, xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
    7. Văn phòng công chứng Ngô Văn T3; trụ sở: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn T3; chức vụ: Trưởng Văn phòng. Vắng mặt.

    8. Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L; trụ sở: Số C T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

      Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Phú T4; chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Trung K3; chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L. Vắng mặt.

      Văn bản ủy quyền ngày 07/02/2023.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Cấn Văn D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Cấn Văn D trình bày:

Ngày 09/02/2021, ông Da M, bà K thỏa thuận chuyển nhượng cho ông diện tích 1.200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L, đất đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 29/6/2000. Cùng ngày 09/02/2021, ông Da M, bà K và ông làm hợp đồng đặt cọc nhận số tiền 200.000.000 đồng. Ngày 25/02/2021, ông Da M đến gặp ông muốn trả lại tiền, không tiếp tục bán thửa đất trên nữa. Hai bên viết giấy hẹn trả số tiền 200.000.000 đồng, hẹn 55 ngày hoàn trả cả vốn và lãi, nếu sau 55 ngày ông Da M, bà K không trả số tiền gốc và lãi thì ông D sẽ sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do việc thỏa thuận quá 55 ngày, ông Da M, bà K không trả được số tiền gốc 200.000.000 đồng và lãi nên ông Da M, bà K đồng ý chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho ông. Ngày 07/5/2021, ông và ông Da M, bà K lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng công chứng Ngô Văn T3. Sau khi công chứng hợp đồng chuyển nhượng, ông nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L để làm thủ tục sang tên, chuyển quyền chủ sử dụng thửa đất. Ngày 05/7/2021, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ ông Da M, bà K sang tên ông. Sau khi chuyển nhượng xong, trên đất có căn nhà xây cấp 4, lợp tôn, diện tích khoảng 120m², gia đình ông Da M, bà K đang sinh sống trong căn nhà này. Ông Da M, bà K trình bày chưa sắp xếp được nơi ở mới nên đề nghị ông cho thuê lại nhà để ở tạm một thời gian. Ông đồng ý cho thuê trong một thời gian ngắn để ông Da M, bà K lo chuyển về nơi ở mới. Ngày 09/10/2021, ông và ông Da M, bà K lập hợp đồng cho thuê nhà, thời hạn thuê tính từ ngày 09/10/2021 đến ngày 30/12/2021, giá thuê 1.000.000 đồng/tháng. Hết thời hạn thuê, ông Da M, bà K không chịu chuyển đi nên ngày 30/12/2021, ông đến yêu cầu ông Da M, bà K viết giấy cam kết chậm nhất ngày 31/01/2021 phải chuyển ra khỏi nhà nhưng đến nay ông Da M, bà K cố tình chiếm giữ trái phép, không ra khỏi nhà. Việc ông Da M, bà K không chịu trả lại nhà khi hợp đồng thuê nhà đã chấm dứt là trái quy định của pháp luật. Ông yêu cầu ông Da M, bà K phải giao trả lại căn nhà mà ông đã cho ông Da M, bà K thuê, theo hợp đồng thuê nhà ngày 09/10/2021, ông không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Da M, bà K vì diện tích đất ông nhận chuyển nhượng là hợp pháp. Trong trường hợp Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Da M, bà K và ông thì yêu cầu ông Da M, bà K phải trả cho ông số tiền đã nhận chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và bồi thường thêm số tiền thiệt hại do chênh lệch giá đất là 400.000.000 đồng, tổng cộng là 600.000.000 đồng.

Bị đơn ông Da M, bà K trình bày:

Ngày 25/02/2021, bà K4 có vay của ông D số tiền 200.000.000 đồng, vì bà K4 không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp cho ông D để vay tiền nên có nhờ ông bà đứng ra thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà được cấp đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại thôn Đ, xã L, huyện L cho ông D để bà K4 vay tiền của ông D. Ngày 25/02/2021, ông bà có ký giấy hẹn trả tiền với ông D. Sau khi ông bà ký giấy, ông D có đưa cho ông bà 200.000.000 đồng và bà K4 đã lấy số tiền này vì bà K4 nhờ ông bà thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay tiền ông D chứ ông bà không vay tiền của ông D. Quá trình vay, bà K4 đã trả cho ông D được 108.000.000 đồng tiền lãi từ tháng 3/2021 đến tháng 8/2021, mỗi tháng là 18.000.000 đồng. Đến tháng 9/2021, bà K4 không có tiền trả cho ông D nên ngày nào ông D cũng đến nhà ông bà yêu cầu trả nợ. Do sợ mất đất nên ông bà xin gia hạn nợ với ông D 03 tháng để trả số nợ bà K4 còn nợ ông D. Ông D cho ông bà hẹn đến cuối tháng 12/2021 trả, đến hạn trả ông bà không trả được vì gia đình ông bà có ông Ha H bị mắc bệnh Covid - 19 ngày 30/12/2021 sau đó tất cả gia đình ông bà được đưa đi cách ly y tế theo quy định của pháp luật (ông Ha H, ông Da M, bà K5 đi cách ly tại cơ sở cách ly y tế dốc 800, còn bà K' Dung, chị Mi K2 cách ly y tế tại Trường Trung học cơ sở xã T ngày 01/01/2022). Đến ngày 26/01/2022, ông bà cùng thôn trưởng là ông Lê Minh V đến nhà ông D để ông bà trả nợ cho ông D và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về nhưng ông D không đồng ý. Khi đó ông bà mới biết được là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà đã điều chỉnh sang tên ông D. Ngày 10/02/2022, ông D cho người vào yêu cầu ông bà chuyển đi nơi khác sinh sống để trả lại đất cho ông D nhưng ông bà không đồng ý. Ngày 19/02/2022, ông D cho người rào lưới B40 xung quanh khu đất. Ngày 21/02/2022, ông D đưa người vào uy hiếp gia đình ông bà yêu cầu trả đất nhưng ông bà không đồng ý và Công an huyện L kết hợp cùng Công an xã L đến giải quyết, ông D mới cho người đi về.

Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và lập hợp đồng thuê nhà giữa ông bà và ông D là không đúng sự thật, lợi dụng ông bà không biết chữ, thiếu hiểu biết nên mới xảy ra sự việc trên, ông bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D, ông bà không thuê nhà, đất của ông D. Ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 07/5/2021 đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L.
  • Tuyên hủy cập nhật trang IV phần điều chính sang tên cho ông D đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/4/2000 đứng tên hộ ông bà Da M.
  • Tuyên hủy hợp đồng thuê nhà giữa ông Da M, bà K với ông D ngày 09/10/2021.

Trường hợp Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông bà với ông D trên, ông bà không đồng ý trả cho ông D số tiền đã nhận chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và bồi thường thêm số tiền thiệt hại do chênh lệch giá đất là 400.000.000 đồng, tổng cộng là 600.000.000 đồng vì ông bà không đặt cọc, không chuyển nhượng đất cho ông D mà cũng không vay tiền của ông D mà số tiền 200.000.000 đồng là bà K4 vay của ông D nên ông D phải yêu cầu bà K4 trả nợ.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà K4 trình bày:

Ngày 25/02/2021, bà có vay của ông Da M, bà K số tiền là 200.000.000 đồng, do là chị em với nhau nên không viết giấy tờ, không thỏa thuận lãi suất. Nguồn gốc của số tiền 200.000.000 đồng là của ông Da M, bà K' D1 đứng ra vay giúp bà của ông D vì ông D nói phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp mới cho vay tiền. Do bà không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp cho ông D nên có nhờ ông Da M, bà K đứng ra thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Da M, bà K được cấp đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại thôn Đ, xã L, huyện L cho ông D để bà vay tiền của ông D. Khi vay có mặt bà, ông Da M, bà K và ông D. Khi vay tiền có viết giấy vay tiền có chữ ký của bà, ông Da M, bà K, ông D, có thỏa thuận lãi suất là 3.000 đồng/triệu/ngày nhưng không ghi vào giấy vay tiền. Hàng tháng, bà là người trả lãi cho ông D 06 tháng với tổng số tiền 108.000.000 đồng tiền lãi từ tháng 03/2021 đến tháng 08/2021 (02 lần chuyển khoản vào số tài khoản 234656299 của ông D tại Ngân hàng TMCP Á (A) mỗi tháng là 18.000.000 đồng, 02 lần bà đưa trực tiếp cho ông D và 02 lần đưa trực tiếp cho vợ của ông D là bà H1, các lần đưa tiền trực tiếp không viết giấy tờ nhận tiền). Ngày 29/4/2021, bà không có tiền trả cho ông D nên ngày nào ông D cũng đến nhà ông Da M, bà K yêu cầu trả nợ. Do sợ mất đất nên ông Da M, bà K xin gia hạn nợ với ông D 03 tháng để trả số nợ mà bà còn nợ ông D. Ông D cho ông Da M, bà K hẹn đến cuối tháng 12/2021 trả. Ông D yêu cầu bà K5, chị Mi K2, chị Rô T2 cùng bà ra nhà riêng của ông Ngô Văn T3 (do ông D lấy xe ô tô chở đi vì các bà không biết nhà ông T3) để ký giấy gia hạn sổ, lúc ký giấy chỉ có bà K5, chị Mi K2, chị Rô T2 ký vào giấy do ông T3 soạn sẵn không cho đọc nội dung, sau khi ký xong, bà K5, chị Mi K2, chị Rô T2 đi về luôn. Sau đó khoảng 2 đến 3 ngày, ông Da M, bà K mới ký vào giấy gia hạn trên và bà cũng chứng kiến việc ông Da M, bà K ký giấy gia hạn số tiền trên. Nhưng đến hạn trả ông Da M, bà K không trả được. Ngày 26/01/2022, ông Da M cùng thôn trưởng là ông Lê Minh V đến nhà ông D để ông Da M, bà K trả nợ cho ông D và lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về nhưng ông D không đồng ý. Khi đó bà mới biết được là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Da M, bà K đã điều chỉnh sang tên ông D. Hiện nay bà vẫn còn nợ lại ông D số tiền 200.000.000 đồng như bà đã trình bày trên. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông D, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà K5 trình bày:

Ngày 29/4/2021, ông D đến nhà bà chở bà cùng chị Rô T2, chị Mi K2 đi ra nhà riêng của ông Ngô Văn T3 để ký giấy gia hạn số cho ông Da M, bà K. Khi ra đến nhà ông T3, bà chỉ ký chữ ký và điểm chỉ vào giấy ông D nói là giấy gia hạn số đã được soạn sẵn tại nhà riêng ông Ngô Văn T3 ngày 29/4/2021. Khi ký, ông D không cho bà đọc nội dung. Bà không ký và điểm chỉ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 07/5/2021 nhưng khi Tòa án cho bà xem chữ ký và điểm chỉ của bà tại hợp đồng trên thì đúng là chữ ký và điểm chỉ của bà nhưng khi ký bà không hiểu rõ nội dung và không ký tại Văn phòng công chứng, do ông D nói ký để gia hạn nợ cho bà K4 không thì mất đất nên bà mới ký. Qua yêu cầu khởi kiện của ông D, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Mi K2 trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày của bà K5.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Rô T2 trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày của bà K5.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh L2 Hót Ha T1 trình bày:

Anh là chồng của chị Rô T2, là con rể của ông Da M, bà K. Tháng 01/2023, anh kết hôn với chị Rô T2. Sau khi kết hôn đến nay, anh chung sống cùng vợ tại nhà xây cấp 4 kết hợp ván của cha mẹ vợ là ông Da M, bà K. Anh không rõ kích thước, diện tích, số thửa, tờ bản đồ nơi có căn nhà đang ở, anh cũng không rõ các nội dung có liên quan đến vụ án, anh chỉ về làm rể và hiện tại đang sinh sống trên căn nhà mà hiện đang tranh chấp trong vụ án, mọi quyết định liên quan là của bố mẹ vợ anh, anh không liên quan gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Cil Ha C trình bày:

Anh là chồng của chị Mi K2, là con rể của ông Da M, bà K. Tháng 04/2022, anh kết hôn với chị Mi K2. Sau khi kết hôn đến nay, anh chung sống cùng vợ tại nhà xây cấp 4 kết hợp ván của cha mẹ vợ là ông Da M, bà K. Anh không rõ kích thước, diện tích, số thửa, tờ bản đồ nơi có căn nhà đang ở, anh cũng không rõ các nội dung có liên quan đến vụ án, anh chỉ về làm rể và hiện tại đang sinh sống trên căn nhà mà hiện đang tranh chấp trong vụ án, mọi quyết định liên quan là của bố mẹ vợ anh, anh không liên quan gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lơ Mu Jô L1 trình bày:

Anh là con trai của ông Da M, bà K. Anh không biết, không thấy, không nghe bố mẹ anh bán đất hay vay tiền, thuê nhà của ông D. Hiện ông ngoại, dì, bố mẹ và anh chị của anh vẫn đang sinh sống trong căn nhà trên diện tích đất 1.200m². Anh là thành viên trong gia đình, anh không ký bất cứ văn bản gì cùng bố mẹ để bán hoặc mượn, thuê nhà đất của ai. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ha H trình bày:

Ông là bố đẻ của bà K. Gia đình ông sinh sống trong căn nhà trên diện tích đất 1.200m² từ năm 1990. Hiện nay ông và gia đình ông Da M, bà K, bà K5 và các con của ông Da M, bà K đang sinh sống trên ngôi nhà này. Từ trước đến nay, gia đình ông vẫn sinh sống và làm việc ổn định tại ngôi nhà và đất tự khai phá. Gia đình ông không bán, không cho ai đất, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Ngô Văn T3 do ông Ngô Văn T3 là người đại diện theo pháp luật trình bày:

Ngày 07/5/2021, hộ gia dình ông Da M và ông D đến Văn phòng công chứng Ngô Văn T3 yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số Q 599618 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 09/6/2000. Sau khi kiểm tra các giấy tờ có liên quan đến công chứng ông thấy: Quyền sử dụng đất trên cấp cho hộ gia đình ông Da M theo sổ hộ khẩu thì tại thời điểm cấp đất năm 2000 hộ gia đình ông Da M gồm có 05 thành viên như sau: Ông Da M (chủ hộ); bà K (vợ); bà Kẻ Lợi (chị em song sinh với bà K); chị Mi K2 (con); chị Rô T2 (con). Sau khi kiểm tra giấy chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu và các giấy tờ liên quan đến công chứng, thấy đầy đủ và hợp lệ nên ông đã giao cho chuyên viên văn phòng soạn thảo hợp đồng cụ thể: Hộ gia đình ông Da M gồm 05 thành viên trên đồng ý chuyển nhượng toàn bộ quyền sử dụng đất số Q 599618 do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 09/6/2000 (đối với thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52 với tổng diện tích 1200m², trong đó có 400m² ONT + 800m² LN) chuyển nhượng cho ông D. Sau khi soạn thảo hợp đồng xong ông đã cho hộ gia đình ông Da M cùng với ông D đọc lại hợp đồng. Hộ gia đình ông Da M và ông D đã đồng ý toàn bộ nội dung hợp đồng và đồng ý ký, điểm chỉ vào hợp đồng trước sự chứng kiến của ông và Văn phòng C1 đã phát hành hợp đồng theo đúng quy trình của Luật công chứng. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Lâm Đồng do ông Lê Trung K3 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Trình tự, thủ tục giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Da M, bà K và ông D đối với thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L theo hợp đồng chuyển nhượng số 4077, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/5/2021 do Văn phòng C1 công chứng là thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L thực hiện giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên đúng theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và trong quá trình giải quyết hồ sơ không phát sinh tình tiết bị hạn chế quyền theo Điều 188 Luật Đất đai 2013 nên việc hủy nội dung đăng ký biến động là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà đã xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Cấn Văn D về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà” với ông Da M, bà K.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Da M, bà K về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng thuê nhà” với ông Cấn Văn D.

    Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Da M, bà K, bà K5, chị Mi K2, chị Rô T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Cấn Văn D đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ 52, tại xã L, huyện L được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 07/5/2021, số công chứng 4077, quyển số 03 TP/CC- SCC/HĐGD.

    Hủy hợp đồng cho thuê nhà ghi ngày 09/10/2021 giữa ông Cấn Văn D và ông Da M, bà K.

    Hủy nội dung xác nhận “chuyển nhượng toàn bộ diện tích 1200m² cho ông Cấn Văn D, SN 1980, CMND số [...], địa chỉ tại: Xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng sử dụng, theo hồ sơ số 210621.0149.CN 001” ngày 05/7/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L tại trang IV giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/6/2000 đứng tên hộ ông bà Da M.

    Buộc ông Cấn Văn D phải tháo dỡ một phần hàng rào lưới B40 cọc bê tông (phần hàng rào giáp đất nhà ông Ha T5 mà ông D tiến hành rào vào năm 2022) trên thửa đất số 141, tờ bản đồ 52, tại xã L, huyện L để trả lại nguyên trạng thửa đất cho ông Da M, bà K.

    Buộc ông Cấn Văn D phải trả cho ông Da M, bà K giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/6/2000 đứng tên hộ ông bà Da M.

    Ông Da M, bà K có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xem xét hủy cập nhật biến động trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã nêu trên.

    Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án để làm thủ tục điều chỉnh biến động đất đai theo quy định.

  3. Buộc ông Da M, bà K trả cho ông Cấn Văn D số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi suất là 48.389.000 đồng, tổng cộng là 248.389.000 đồng.

    Ngoài ra quyết định của bản án còn tuyên về án phí, về chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự.

Ngày 04/8/2023, nguyên đơn ông Cấn Văn D kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi lại nhà của ông; không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Da M, bà K.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông D do ông T là người đại diện theo ủy quyền vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị chấp nhận kháng cáo. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không đồng ý với kháng cáo của ông D, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng, cụ thể: Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa dân sự phúc thẩm; đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông D; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Xuất phát từ việc nguyên đơn ông D cho rằng ông Da M, bà K thỏa thuận chuyển nhượng cho ông diện tích 1.200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L đã hoàn tất thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ ông Da M, bà K sang tên ông theo quy định của pháp luật. Sau khi chuyển nhượng xong, trên đất có căn nhà xây cấp 4, lợp tôn, diện tích khoảng 120m², gia đình ông Da M, bà K đang sinh sống trong căn nhà này, do chưa sắp xếp được nơi ở mới nên đề nghị ông cho thuê lại nhà để ở tạm một thời gian ông đồng ý cho thuê và hai bên lập hợp đồng cho thuê nhà, thời hạn thuê tính từ ngày 09/10/2021 đến ngày 30/12/2021, giá thuê 1.000.000 đồng/tháng. Hết thời hạn thuê, ông Da M, bà K không chuyển đi. Ông khởi kiện yêu cầu ông Da M, bà K phải giao trả lại căn nhà. Ông không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Da M, bà K vì diện tích đất ông nhận chuyển nhượng là hợp pháp. Trong trường hợp Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Da M, bà K và ông thì yêu cầu ông Da M, bà K phải trả cho ông số tiền đã nhận chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và bồi thường thêm số tiền thiệt hại do chênh lệch giá đất là 400.000.000 đồng, tổng cộng là 600.000.000 đồng. Còn bị đơn ông Da M, bà K xác định ông bà không chuyển nhượng đất, không thuê nhà như ông D trình bày, ông bà chỉ đứng ra thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông bà được cấp đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại thôn Đ, xã L, huyện L cho ông D để bà K4 vay tiền của ông D. Ông bà yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • Tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 07/5/2021 đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L.
  • Tuyên hủy cập nhật trang IV phần điều chính sang tên cho ông D đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/4/2000 đứng tên hộ ông bà Da M.
  • Tuyên hủy hợp đồng thuê nhà giữa ông Da M, bà K với ông D ngày 09/10/2021.

Trường hợp Tòa án tuyên hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông bà với ông D, ông bà không đồng ý trả cho ông D số tiền đã nhận chuyển nhượng là 200.000.000 đồng và bồi thường thêm số tiền thiệt hại do chênh lệch giá đất là 400.000.000 đồng, tổng cộng là 600.000.000 đồng vì ông bà không đặt cọc, không chuyển nhượng đất cho ông D mà cũng không vay tiền của ông D mà số tiền 200.000.000 đồng là bà K4 vay của ông D nên ông D phải yêu cầu bà K4 trả nợ.

Vì vậy, các bên phát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” là có căn cứ.

[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông D:

[2.1] Theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa ông Da M, bà K, bà K5, chị Mi K2, chị Rô T2 và ông D thể hiện hộ ông Da M chuyển nhượng cho ông D toàn bộ thửa đất trên với giá chuyển nhượng ghi trong hợp đồng là 200.000.000 đồng, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Ngô Văn T3, số công chứng 4077, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD vào ngày 07/5/2021 (bút lục số 35-37), Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L đã xác nhận biến động điều chỉnh sang tên ông D tại trang IV giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên vào ngày 05/7/2021.

[2.2] Ông D cho rằng, ông Da M, bà K chưa có nơi ở mới nên thuê lại căn nhà trên đất để ở, thời hạn thuê là 02 tháng, giá thuê là 1.000.000 đồng/tháng, hết thời hạn thuê ông Da M, bà K không trả lại nhà đất nên yêu cầu ông Da M, bà K phải trả lại nhà đất. Còn ông Da M, bà K thừa nhận có điểm chỉ vào hợp đồng thuê nhà, giấy chuyển nhượng đất. Tuy nhiên, bị đơn cho rằng thực tế không có việc chuyển nhượng đất giữa gia đình bị đơn với ông D mà xuất phát từ việc bà K4 vay 200.000.000 đồng của ông D, do bà K4 không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà K4 nhờ bị đơn cầm cố giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bị đơn cho ông D để làm tin. Nguyên đơn không thừa nhận việc vay tiền giữa bà K4 với ông D, chỉ có việc ông D trả tiền đặt cọc 200.000.000 đồng cho ông Da M, bà K. Ông Da M thừa nhận có nhận của ông D số tiền 200.000.000 đồng, nhưng ngay sau khi nhận tiền của ông D, ông đã đưa 200.000.000 đồng cho bà K4. Như vậy, có căn cứ xác định bị đơn có nhận của nguyên đơn số tiền 200.000.000 đồng, bị đơn cũng đồng ý trả lại số tiền này và lãi suất theo quy định của pháp luật.

[2.3] Theo giấy hẹn trả tiền ngày 25/02/2021 (bút lục số 23) thể hiện: “Tôi Cấn Văn D...có cho ông Da M, bà K vay số tiền 200.000.000 đồng...và ông Da M, bà K đồng ý sang nhượng lại mảnh đất diện tích 1200m²..., nay ông Da M, bà K có hẹn 55 ngày kể từ ngày viết giấy 25/02/2021, nếu đến ngày ông Da M, bà K không hoàn trả số tiền gốc và lãi thì ông D sẽ sang tên sổ đỏ”. Nguyên đơn thừa nhận giấy này do mình viết.

Hơn nữa, quyền sử dụng đất trên đã được tiến hành định giá (bảng giá theo quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh L ban hành) có tổng giá trị 397.595.891 đồng; tài sản được định giá tại thời điểm bất động sản theo giá thị trường đã có dấu hiệu hạ nhiệt nên việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các đương sự với giá 200.000.000 đồng là không phù hợp với tình hình thực tế, không phản ánh đúng giá trị tài sản chuyển nhượng.

Bên cạnh đó, nguyên đơn cho rằng bị đơn ký hợp đồng thuê nhà với nguyên đơn với giá tiền thuê là 1.000.000 đồng/tháng theo hợp đồng cho thuê nhà ngày 09/10/2021 nhưng nguyên đơn không xuất trình được chứng cứ thể hiện bị đơn thực hiện việc trả tiền thuê nhà còn bị đơn thì không thừa nhận việc thuê nhà nên việc thuê nhà không phù hợp với thực tế.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành xác minh tại địa phương thì toàn bộ gia đình bị đơn (4 thế hệ) đều sinh sống tại diện tích đất đang tranh chấp, không có nơi ở nào khác, lại là người dân tộc thiểu số nên việc trình bày của bị đơn không thực hiện việc chuyển nhượng đất là có căn cứ.

Như vậy, việc các bên ký hợp đồng chuyển nhượng đất là nhằm che dấu giao dịch dân sự vay tài sản nên giao dịch chuyển nhượng đất bị vô hiệu tại thời điểm giao kết. Ngoài ra, sau khi nhận chuyển nhượng ông D cũng chưa nhận bàn giao đất, nhà từ ông Da M, bà K. Vì vậy, có căn cứ xác định khoản tiền 200.000.000 đồng là khoản tiền ông D cho ông Da M, bà K vay chứ không phải khoản tiền thanh toán cho việc nhận chuyển nhượng đất.

[2.4] Bị đơn không thừa nhận vay tiền của nguyên đơn nhưng lại thừa nhận chữ ký có trong giấy hẹn trả tiền là của bị đơn nên trình bày của bị đơn là không có căn cứ. Việc bị đơn cho rằng toàn bộ số tiền 200.000.000 đồng nguyên đơn giao cho bà K6, bà K6 cũng thừa nhận là bị đơn vay dùm tiền cho bà có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn nên bị đơn không có trách nhiệm trả cho nguyên đơn là không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc là 200.000.000 đồng và lãi phát sinh là có căn cứ.

[2.5] Việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L đăng ký biến động là đúng quy định của pháp luật nhưng do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị vô hiệu do giả tạo nên cần phải hủy nội dung cập nhật sang tên ông D tại trang IV giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hủy điều chỉnh cập nhật biến động sang tên ông D nên ông D không phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với diện tích đất và tài sản trên đất nên hợp đồng cho thuê nhà ngày 09/10/2021 giữa ông D và ông Da M, bà K là vô hiệu. Trong trường hợp này, không cần thiết đưa Văn phòng đăng ký đất đai vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cũng không cần thiết hủy đăng ký biến động sang tên ông D tại trang IV giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hướng dẫn tại Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao nên Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên bị vô hiệu nên ông D không phải là chủ sở hữu hợp pháp đối với diện tích đất và tài sản trên đất trên nên hợp đồng cho thuê nhà ngày 09/10/2021 giữa ông D và ông Da M, bà K là vô hiệu.

[2.6] Đối với số tiền lãi, do giấy hẹn trả tiền không thể hiện mức lãi suất nên cần xem xét buộc ông Da M, bà K trả cho ông D số tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, số tiền lãi được tính như sau: 200.000.000 đồng x 10%/năm x 2 năm 5 tháng 01 ngày (từ ngày viết giấy hẹn trả tiền ngày 25/02/2021 đến ngày xét xử sơ thẩm 26/7/2023) = 48.389.000 đồng.

[2.7] Việc ông D làm trụ bê tông, hàng rào rào tại diện tích đất trên, do hợp đồng chuyển nhượng đất bị vô hiệu nên cần buộc ông D tháo rỡ hàng rào, trụ bê tông đã làm trên phần đất của ông Da M, bà K.

Hiện nay giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông D đang giữ nên cần buộc ông D phải trả lại cho ông Da M, bà K.

Đối với việc bà K4 cho rằng bà vay của ông D số tiền 200.000.000 đồng và đã trả được một số tiền lãi, nhưng bà K4 và ông Da M, bà K không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền 200.000.000 đồng là bà K4 vay của ông D. Trường hợp, ông Da M, bà K có tranh chấp với bà K4 về khoản tiền trên có quyền khởi kiện để được xem xét, giải quyết bằng vụ án kiện dân sự khác.

Với những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án về việc không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ.

Do đó, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Về chi phí tố tụng: Ông Cấn Văn D phải chịu 3.512.400 đồng chi phí cho việc đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, đã nộp đủ và quyết toán xong.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn và bị đơn cùng phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Cấn Văn D.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2023/DS-ST ngày 26/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, cụ thể như sau:

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cấn Văn D về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà” với bị đơn ông Da M, bà K.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Da M, bà K về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; tranh chấp hợp đồng thuê nhà” với ông Cấn Văn D.

    Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất giữa bên chuyển nhượng ông Da M, bà K, bà K5, chị Mi K2, chị Rô T2 với bên nhận chuyển nhượng ông Cấn Văn D đối với diện tích đất 1200m², thuộc thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng được công chứng tại Văn phòng C1 ngày 07/5/2021, số công chứng 4077, quyển số 03 TP/CC-SCC/HĐGD là vô hiệu.

    Hợp đồng cho thuê nhà ngày 09/10/2021 giữa ông Cấn Văn D và ông Da M, bà K là vô hiệu.

    Hủy nội dung xác nhận “chuyển nhượng toàn bộ diện tích 1200m² cho ông Cấn Văn D, SN 1980, CMND số [...], địa chỉ tại: xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng sử dụng, theo hồ sơ số 210621.0149.CN 001” ngày 05/7/2021 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L, tỉnh Lâm Đồng tại trang IV Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/6/2000 đứng tên hộ ông bà Da M.

    Buộc ông Cấn Văn D phải tháo dỡ một phần hàng rào lưới B40 cọc bê tông (phần hàng rào giáp đất nhà ông Ha T5 mà ông D tiến hành rào vào năm 2022) trên thửa đất số 141, tờ bản đồ số 52, tại xã L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để trả lại nguyên trạng thửa đất cho ông Da M, bà K.

    Buộc ông Cấn Văn D phải trả cho ông Da M, bà K giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 29/6/2000 đứng tên hộ ông bà Da M.

    Ông Da M, bà K có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.

    Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh L căn cứ vào bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án để làm thủ tục điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

  3. Buộc ông Da M, bà K trả cho ông Cấn Văn D số tiền vay gốc là 200.000.000 đồng và tiền lãi suất là 48.389.000 đồng, tổng cộng là 248.389.000 đồng (hai trăm bốn mươi tám triệu ba trăm tám mươi chín nghìn đồng).
  4. Về chi phí tố tụng: Ông Cấn Văn D phải chịu 3.512.400 đồng chi phí cho việc đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, đã nộp đủ và đã quyết toán xong.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Buộc ông Cấn Văn D phải chịu 600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 2.800.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003043 ngày 28/3/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Hoàn trả cho ông Cấn Văn D 2.200.000 đồng tạm ứng án phí còn thừa.

    Buộc ông Da M, bà K phải chịu 12.419.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 600.000đồng đã nộp theo biên lai thu số 0003295 ngày 13/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Ông Da M, bà K còn phải nộp 11.819.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc ông Cấn Văn D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã tạm nộp theo biên lai thu số 0000001 ngày 08/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lâm Hà. Ông D đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - TAND huyện Lâm Hà;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Những người tham gia tố tụng (12);
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn (03).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã Ký)

Nguyễn Thành Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2023/DS-PT ngày 30/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng thuê nhà; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

  • Số bản án: 209/2023/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê nhà; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D và M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger