TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số:209/2024/HNGĐ-ST Ngày: 26/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành viên Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Quang Dũng
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Mai
- 2/ Bà Hoàng Thị An
- - Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Minh Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh - Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 26/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 153/2024/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 22/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T, sinh năm 1993
Nơi cư trú: T, T, Đ, Hà Nội
Bị đơn: Anh Nguyễn Doãn S, sinh năm 1985
Nơi cư trú: T, T, Đ, Hà Nội
Chị T có mặt, anh S vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn Chị Phạm Thị T trình bày:
Về tình cảm: Tôi kết hôn với anh Nguyễn Doãn S tự nguyện, không bị ai ép buộc, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, Đ, Hà Nội ngày 23/12/2010. Sau khi kết hôn chúng tôi sống chung tại thôn T, xã T, Đ, Hà Nội. Mâu thuẫn giữa tôi và anh S xảy ra từ đầu năm 2023, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm về giáo dục con, hay xảy ra mâu thuẫn dẫn đến cãi nhau, có xảy ra đánh nhau. Cả 2 không có trách nhiệm gì với nhau. Chúng tôi đã ly thân từ ngày 10/5/2023. Tôi xác định tình cảm không còn đề nghị tòa án cho tôi được ly hôn với anh S.
Về con chung: Tôi và anh S sinh có 02 con chung là Nguyễn Doãn Trí H, sinh ngày 21/9/2011; Nguyễn Doãn Trí D, sinh ngày 09/6/2014. Hiện nay các cháu đang sống cùng anh S, sức khoẻ của các cháu tốt. Ly hôn tôi yêu cầu nuôi con chung không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chúng tôi không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về án phí: tôi chịu cả.
Bị đơn anh Nguyễn Doãn S: Cán bộ tòa án cùng đại diện chính quyền địa phương đã đến gặp anh S nhưng anh S từ chối không cung cấp lời khai vì vậy cán bộ toà án không ghi được lời khai của anh S.
Tại phiên tòa: Anh S vắng mặt. Chị T giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh S và yêu cầu được nuôi con. Chủ tọa phiên tòa công bố lời khai, các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm:
-Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật
-Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử:
- + Về tình cảm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T
- +Về con: Chị T, anh S có 02 con chung là Nguyễn Doãn Trí H, sinh ngày 21/9/2011; Nguyễn Doãn Trí D, sinh ngày 09/6/2014. Ly hôn đề nghị giao con chung cho anh S.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết .
- + Về án phí: Chị T chịu án phí không có giá ngạch
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa . Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Doãn S có đăng ký kết hôn tại U, Đ, Hà Nội. Tòa án xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Chị T xin ly hôn anh S, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn”. Chị T, anh S đều đăng ký cư trú tại huyện Đ, Hà Nội. Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 39 bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc tòa án nhân dân huyện Đông Anh.
[2] Về tố tụng: Căn cứ Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp do các đương sự không thỏa thuận được để giải quyết vụ án.
[3] Về nội dung:
- [3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh S, Chị T kết hôn tự nguyện và hợp pháp. Sau khi kết hôn 2 anh chị sống cùng nhau tại nhà bố mẹ anh S ở T, T, Đ, Hà Nội. Quá trình chung sống giữa 2 anh chị xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, mâu thuẫn căng thẳng cả 2 đã xảy ra đánh nhau. Cả 2 anh chị đã ly thân từ năm 2023.
- Qua xác minh, chính quyền địa phương cung cấp ý kiến: Chị T, anh S có xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Chị T đã không sống cùng với anh S ở địa phương. Nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không rõ.
- Xét mâu thuẫn của Chị T và anh S trầm trọng đã lâu, quan hệ hôn nhân không đạt được, cả 2 đã ly thân nên việc chấp nhận yêu cầu ly hôn của Chị T là có căn cứ.
- [3.2] Về con chung: Chị T và anh S có 02 con chung là Nguyễn Doãn Trí H, sinh ngày 21/9/2011; Nguyễn Doãn Trí D, sinh ngày 09/6/2014. Hiện nay sức khoẻ của các cháu tốt. Chị T có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con. Anh S có ý kiến trường hợp chị T không nuôi con thì anh nuôi. Quá trình tố tụng anh S không chấp hành pháp luật đầy đủ, toà án không có căn cứ giao con chung cho anh S nuôi dưỡng. Vì vậy việc giao con chung cho chị T nuôi dưỡng là phù hợp.
- [3.3]Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Tòa án không xem xét.
- [4] Về án phí: Chị T phải chịu án phí không có giá ngạch.
- [5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự đều có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố dụng dân sự 2015.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án cùng danh mục kèm theo.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của Chị Phạm Thị T với anh Nguyễn Doãn S. Chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Doãn S.
Giấy đăng ký kết hôn số 213 ngày 23/12/2010 do UBND xã T, huyện Đ, Hà Nội cấp cho chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Doãn S không còn hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Doãn S có 02 con chung là Nguyễn Doãn Trí H, sinh ngày 21/9/2011; Nguyễn Doãn Trí D, sinh ngày 09/6/2014. Ly hôn chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi con chung thành niên hoặc khi có quyết định khác của Toà án. Toà án không giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án không giải quyết tài sản chung, nợ chung trong vụ án .
- Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí 300.000 đồng tiền án phí được trừ vào 300.000 đồng tiền án phí Chị Phạm Thị T đã nộp tại chi cục thi hành án Dân sự huyện Đông Anh theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án ký hiệu BLTU/23 số 0017211 ngày 01/4/2024. Chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Quang Dũng |
Bản án số 209/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 209/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị T kết hôn với Nguyễn Doãn S ngày 23/12/2010. Do mâu thuẫn gia đình nên T xin ly hôn S
