Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/HS-ST

Ngày: 25 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Như Thuần.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Vỵ

Bà Trần Thị Thanh Xuân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lan Hương, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Hồ Đức Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 162/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 198/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Thị Mộng D, sinh ngày: 28/12/1972 tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nữ; Căn cước công dân số: [...]; Nơi cư trú: A L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê D1 (đã chết) và bà Trần Thị H. Gia đình có 03 chị em ruột, bị cáo là con thứ hai; có chồng: Trần Viết P (đã ly hôn) và có 03 người con, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/10/2023 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Bà Lê Thị Phương T, sinh năm: 1972; Địa chỉ: Lô M Khu tái định cư L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 02/2023, bà Lê Thị Phương T thuê Lê Thị Mộng D làm giúp việc cho gia đình bà T tại lô M, khu tái định cư L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đầu tháng 3/2023, trong quá trình giúp việc nhà và dọn dẹp phòng ngủ của bà T, D phát hiện bà T cất chìa khóa của tủ gỗ trên nóc tủ. Lợi dụng lúc bà T không có trong phòng ngủ, D lấy chìa khóa mở tủ ra xem thì phát hiện bên trong có nhiều vàng miếng loại 01 lượng, vàng SJC nên D nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Khoảng đầu tháng 3/2023, D đã lấy 02 lượng vàng SJC 99,99 trong túi vải màu trắng ở trong tủ gỗ cất giấu trong người rồi khóa tủ, bỏ chia khóa lại vị trí cũ. Sau đó, D mang 02 lượng vàng đến cửa hàng N ở chợ T1, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế bán được số tiền 132.600.000 đồng.

Sau khi lấy trộm 02 lượng vàng của bà T, thấy sự việc không bị phát hiện nên đến cuối tháng 3/2023 với thủ đoạn tương tự, D tiếp tục lấy của bà T 02 lượng vàng SJC và mang đến bán tại cửa hàng R ở chợ Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với giá 133.000.000 đồng. Số tiền bán vàng được D trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.

Số vàng D lấy trộm rồi mang đi bán, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không thu giữ được.

* Vật chứng thu giữ:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus biển kiểm soát: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174; số khung: C820GY005175.
  • 01 giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus BKS: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174, số khung: C820GY005175
  • 04 hóa đơn bán hàng của Công ty CP T2 tại Thừa Thiên Huế,
  • 01 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty Cổ phần V tại Thừa Thiên Huế.
  • 06 giấy bảo đảm của Doanh nghiệp tư nhân V1.

* Ngày 22/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành Yêu cầu định giá tài sản số: 213/YC với nội dung yêu cầu Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố H xác định giá trị 04 lượng vàng nhãn hiệu SJC, loại vàng miếng tại thời điểm bị chiếm đoạt vào tháng 3/2023 qua hồ sơ vụ án. Tại bản kết luận định giá tài sản số: 213 ngày 22/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: "Căn cứ hồ sơ liên quan không có kết quả giám định kim loại vàng, theo quy định, do đó không có cơ sở để xác định giá trị kim loại vàng theo đề nghị của Cơ quan Cảnh sát điều tra”. Tiếp đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã có văn bản gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố H đề nghị cung cấp giá vàng SJC (loại 24K) trong thời điểm tháng 3, tháng 4, tháng 5 của năm 2023 nhưng Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố H không có thông tin để trả lời.

Tuy nhiên, căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại và các tài liệu chứng cứ trong vụ án và Công văn số 01- 23/CV-SJCHUE ngày 18/9/2023 của Công ty TNHH MTV V2 Chi nhánh S thì giá vàng SJC vào thời điểm tháng 3 năm 2023 cơ bản phù hợp với giá mà bị cáo Lê Thị Mộng D khai đã bán được. Do đó, tổng giá trị 04 lượng vàng miếng SJC 99,99 mà Lê Thị Mộng D chiếm đoạt trong vụ án này được xác định là 265.600.000 đồng.

* Về xử lý vật chứng: Không.

* Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu được bồi thường số vàng bị mất nhưng bị cáo chưa bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 182/CT-VKSTPH ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quyết định truy tố Lê Thị Mộng D về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù; Về vật chứng: Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus biển kiểm soát: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174; số khung. C820GY005175 và 01 giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus BKS: 75F1-531.64, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Thị Mộng D có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lê Thị Phương T số tiền 265.600.000đồng. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

[2] Về tội danh:

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào tháng 3 năm 2023, trong khoảng thời gian đi làm giúp việc cho bà Lê Thị Phương T tại Lô M, khu tái định cư L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Lê Thị Mộng D đã 02 lần chiếm đoạt của bà Lê Thị Phương T 04 lượng vàng SJC 99,99. Cụ thể: Lần thứ nhất: Vào đầu tháng 3/2024, Lê Thị Mộng D đã lén lút chiếm đoạt của bà T 02 lượng vàng SJC 99,99. Lần thứ hai: Vào cuối tháng 3/2024, Lê Thị Mộng D đã lén lút chiếm đoạt của bà T 02 lượng vàng SJC 99,99. Tổng tài sản là 04 lượng vàng SJC 99,99 tại thời điểm bị chiếm đoạt có giá trị 265.600.000đồng, phù hợp với lời khai của bị cáo về số tiền thu được sau 02 lần bị cáo đưa 04 lượng vàng trên đi bán.

Bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bà Lê Thị Phương T. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 265.600.000đồng, nên bị cáo đã phạm vào tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” được quy định tại điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo với tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Khi thực hiện tội phạm, bị cáo 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, mỗi lần trên 2.000.000 đồng nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng là phạm tội từ 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[4] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ nhưng vì lòng tham, với động cơ muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện thuộc loại tội rất nghiêm trọng, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến trật tự an toàn trên địa bàn nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

[5] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại bà Lê Thị Phương T cho rằng bị mất 07 lượng vàng SJC và 04 chỉ vàng. Tuy nhiên, quá trình điều tra không đủ căn cứ xác định Lê Thị Mộng D là người đã chiếm đoạt số vàng còn lại bà T bị mất, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H không có căn cứ xử lý đối với bị cáo theo lời khai của bị hại.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus biển kiểm soát: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174; số khung: C820GY005175 và 01 giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus BKS: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174, số khung: C820GY005175 là của bị cáo D sử dụng để đi lại, không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên không phải là vật chứng trong vụ án, cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại bà Lê Thị Phương T yêu cầu bị cáo phải bồi thường giá trị của 04 lượng vàng SJC 99,99 là 265.600.000đồng. Yêu cầu của bà T là có căn cứ, cần buộc bị cáo phải thực hiện.

[8] Về án phí:

[8.1] Án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Lê Thị Mộng D phải chịu 200.000đồng.

[8.2] Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thị Mộng D phải chịu 265.600.000đồng x 5% = 13.280.000đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Mộng D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị Mộng D 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 17/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Trả lại cho bị cáo 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus biển kiểm soát: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174, số khung: C820GY005175 và 01 giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Janus BKS: 75F1-531.64, màu sơn xám bạc, số máy: E3Y8E005174, số khung: C820GY005175. Tuy nhiên, tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Đồ vật có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Huế).

3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 357, 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Lê Thị Mộng D có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Lê Thị Phương T số tiền 265.600.000đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền chưa được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[4.1] Buộc bị cáo Lê Thị Mộng D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4.2] Buộc bị cáo Lê Thị Mộng D phải chịu 13.280.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TT Huệ;
  • - VKSND thành phố Huế
  • - CA thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh TTHuế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - THAHS;
  • - Lưu: HSVA, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Như Thuần

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Vỵ

Trần Thị Thanh Xuân

Hoàng Thị Như Thuần

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 25/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 209/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TCTS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger