|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 209/2024/DS-PT Ngày 25 - 4 - 2024 “V/v Tranh chấp vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;
Các Thẩm phán: Bà lê Thị Trúc Phương
Ông Lê Hồng Nước
- Thư ký phiên tòa:
Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp:
Ông Phan Trung Quốc - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2024/TLPT-DS ngày 31 tháng 01 năm 2024, về việc “Tranh chấp vay tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Lấp Vò bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 167/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh năm: 1988;
Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn N, sinh năm: 1974;
Địa chỉ: Số E, ấp T, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
-
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1991;
Địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
-
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1970.
- Bà Đỗ Thị N1, sinh năm: 1967.
Cùng địa chỉ: Số C, ấp K, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
-
Người kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Cẩm T là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T và người đại diện hợp pháp ông Trần Văn N trình bày:
Do nguyên đơn là chị Nguyễn Thịu Cẩm T1 với bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy V là chị em chú bác ruột, nên khi chị V có nhu cầu cần vốn để làm ăn trong gia đình thì chị V có thỏa thuận giao kết các hợp đồng vay với chị T1, với nội dung chị T1 cho chị V vay tiền các lần cụ thể như sau:
Vào ngày 23/02/2021, chị T1 cho chị V vay số tiền 800.000.000 đồng, thỏa thuận lãi suất 2%/tháng. Tại mục tài sản thế chấp của hợp đồng vay có ghi nhận là tài sản và xe, tuy nhiên về nội dung này chị T1 thừa nhận là chỉ ghi nhận chứ trên thực tế không có giao nhận bất cứ tài sản gì. Quá trình thực hiện hợp đồng vay chị V đã nhận đủ số tiền trên được chứng minh bằng Biên nhận tiền đề ngày 23/02/2021 có chữ ký và ghi họ tên chị V tại mục Người nhận tiền.
Ngày 12/10/2021, chị T1 có cho chị V vay số tiền 200.000.000 đồng, chị T1 đã giao tiền vay cho chị V bằng hình thức nhận tiền mặt. Chị V đã nhận đủ số tiền trên. Khi vay tiền chị T1 và chị V có thỏa thuận về nghĩa vụ trả lãi trên số tiền nợ gốc là 1,5%/tháng. Tại mục tài sản thế chấp của hợp đồng vay có ghi nhận là “thế chấp bằng khoán ông Trần Văn D”. Đối với nội dung này chị T1 thừa nhận trên thực tế chị V có giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 03656 do hộ ông Trần Văn D, sinh năm: 1962, địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L đứng tên quyền sử dụng, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 05/9/2012, đối với thửa đất số 151, tờ bản đồ số 14 để làm tin.
Cả hai hợp đồng vay hai bên đều không có thỏa thuận cụ thể về thời hạn cho vay mà chỉ thỏa thuận là khi nào chị T1 cần lấy lại tiền thì sẽ thông báo cho chị V biết trước 01 tháng. Việc vay tiền được ghi nhận bằng Hợp đồng cho cá nhân vay tiền cùng ngày, có chữ ký và ghi họ tên chị V tại mục “Bên vay tiền”.
Từ khi vay tiền đến nay, chị V không trả nợ gốc cũng không trả tiền lãi cho chị T1 dù chị T1 đã nhiều lần nhắc nhở. Do chị V không trả tiền nên chị T1 làm đơn trình báo đến Công an huyện L để xử lý chị V về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L có tạm giữ của chị T1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn D đứng tên, quyền sử dụng đất thuộc thửa 151, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và đến ngày 20/7/2022, Công an huyện L trả lời hành vi của chị V không có dấu hiệu phạm tội mà là tranh chấp dân sự theo văn bản số 151/CQĐT ngày 20/7/2022, nhưng bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn D đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa 151, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp thì Công an huyện L chưa trả lại cho chị V.
Do số tiền mà chị V vay tiền để sử dụng trong gia đình của chị V, gia đình của chị V gồm có ông Nguyễn Văn K và bà Đỗ Thị N1 là cha mẹ của chị V. Đồng thời, trước đây ông K cũng thừa nhận và cam kết trả số tiền này, có ghi giấy thỏa thuận nhưng do cự cãi các bên đã làm rách nên không thể giao nộp tài liệu để làm chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này. Cho đến nay, chị V và ông K vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay.
Nay chị Thu g nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
2
Chị T1 yêu cầu chị V, ông K và bà N1 có nghĩa vụ liên đới trả cho chị T1 tiền nợ gốc trong Hợp đồng vay ngày 23/02/2021 và Hợp đồng vay ngày 12/10/2021 là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi trên nợ gốc trong hợp đồng vay này tính đến ngày xét xử sơ thẩm là:
Tiền lãi của số nợ gốc 800.000.000 đồng trong Hợp đồng vay ngày 23/02/2021, là 24 tháng mức lãi suất 1,5%/tháng thành tiền là 240.000.000 đồng. Tiền lãi của số nợ gốc 200.000.000 đồng trong Hợp đồng vay ngày 12/10/2021, là 16 tháng mức lãi suất 1,5%/tháng thành tiền là 48.000.000 đồng. Tổng tiền nợ lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm trong hai hợp đồng vay là 288.000.000 đồng. Tổng cộng nợ gốc và nợ lãi là 1.288.000.000 đồng.
Mặc dù, chị T1 xác định giữa các bên hoàn toàn không giao kết hợp đồng thế chấp đối với quyền sử dụng đất của bất kỳ ai, cũng không có đăng ký đảm bảo theo quy định đối với bất kỳ tài sản nào và không tranh chấp hợp đồng thế chấp tài sản gì trong vụ án này; Đồng thời, chị T1 cũng xác định việc chị V giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D cho chị Thu giữ khi vay 200 triệu là để làm tin, nhưng theo cách hiểu của chị T1 thì việc chị V giao giấy đất cho giữ xem như để đảm bảo cho việc trả nợ vay trong hợp đồng vay này. Nên chị T1 yêu cầu đưa Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện L vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và yêu cầu Cơ quan này hoàn trả cho chị T1 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn D đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa 151, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Khi chị V, ông K và bà N1 trả xong tiền cho chị T1 thì chị T1 hoàn trả lại cho chị V bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Trần Văn D đứng tên quyền sử dụng đất thuộc thửa 151, tờ bản đồ số 14, đất tọa lạc ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị Thùy V trình bày:
Chị V thống nhất với lời trình bày của chị T1 về mối quan hệ của chị V và chị T1, về việc chị V có vay tiền của chị T1.
Tuy nhiên, chị V cho rằng năm 2020, chị T1 có cho chị V vay tiền nhiều lần, đến năm 2021, tổng số tiền vay lên tới 430.000.000 đồng. Khi đó, chị T1 có ghi ra giấy, tính toán vẫ chốt lại số tiền vay này chụp hình và gửi cho chị V. Từ lúc chốt tiền đến nay, chị V không có đủ khả năng để trả số tiền này cho chị T1, nên không thực hiện nghĩa vụ mà hứa với chị T1 sẽ trả dần.
Vào khoản tháng 02/2022, chị T1 có hẹn gặp chị V đe dọa, chị T1 còn cho người đến nhà hâm dọa gia đình chị V. Do sợ nên theo yêu cầu của chị T1, chị V có tự điền thông tin, ký tên và ghi họ tên vào Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 23/02/2021 và 12/10/2021 với số tiền ghi trên hai hợp đồng là 1.000.000.000 đồng. Chị V cho rằng mình không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày này.
Vào cuối tháng 4/2022, chị T1 gửi đơn lên Công an huyện L để tố giác chị V. Tại Công an Huyện, chị V và chị T1 thỏa thuận cho chị V trả 430.000.000 đồng theo cách thức và thời hạn do chị T1 ấn định xem như kết thúc nợ. Nhưng do khi đó chị V không có tiền nên không thể thực hiện thỏa thuận được.
3
Tại phiên tòa, chị V vẫn khẳng định mình có vay tiền của chị T1 để cho vay lại, việc vay tiền diễn ra nhiều lần chị T1 giao tiền cho chị V bằng hình thức chuyển khoản, lần ít nhất là 5.000.000 đồng, lần nhiều nhất là 200.000.000 đồng. Tính đến nay, chị V chỉ nợ chị T1 430.000.000 đồng chứ không nợ chị T1 1.000.000.000 đồng như ghi trong hai biên nhận, chị V cũng không thống nhất về mức lãi suất và mục đích vay ghi trong hợp đồng. Chị V khẳng định việc vay tiền là cá nhân chị V vay để làm ăn, hoàn toàn không liên quan đến cha mẹ chị V là ông K và bà N1. Cho nên, chị V xác định mình chỉ nợ chị T1 430.000.000 đồng tiền nợ gốc và đồng ý trả số tiền nợ gốc này. Chị V không đồng ý có nghĩa vụ liên đới cùng ông K và bà N1 trả số tiền nợ gốc và lãi như chị T1 yêu cầu. Chị V không yêu cầu gì đối với ông K và bà N1.
Chị V thừa nhận chị V có đưa bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D cho chị Thu giữ làm tin, không thế chấp hay đảm bảo gì cả, chị V cũng xác định việc mình chiếm giữ Giấy tờ này và chuyển cho chị Thu g là không hợp pháp, nay Công an Huyện đã tạm giữ theo thủ tục, chị V không ý kiến yêu cầu gì mà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, và cũng không yêu cầu chị T1 phải trả giấy tờ này cho mình.
Chị V còn trình bày về việc chị T1 có tự ý chiếm giữ 01 cái điện thoại Iphone 12 và Thẻ Đảng viên của chị V, nhưng do không có chứng cứ nên chị V không yêu cầu gì trong vụ án này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn K, bà Đỗ Thị N1 trình bày:
Không có văn bản trình bày ý kiến gửi đến Tòa án.
Bản án dân sự sơ thẩm số 90/2023/DS-ST ngày 23 tháng 11 năm 2023
của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò quyết định:
Căn cứ Điều 117, 357, 463, 466, 468, 469 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 147, và các điều 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T.
- Buộc chị Nguyễn Thị Thùy V có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm T số tiền nợ gốc trong hai hợp đồng vay được ghi nhận trong Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 23/02/2021, và Hợp đồng cho cá nhân vay tiền ngày 12/10/2021; và tiền nợ lãi của cả hai hợp đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 1.288.000.000 đồng (Một tỷ, hai trăm tám mươi tám triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
4
Chị Nguyễn Thị Thùy V phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 50.640.000 đồng (Năm mươi triệu, sáu trăm bốn mươi nghìn đồng). Chị V chưa nộp.
Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.320.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, ba trăm hai mươi nghìn đồng) theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016679, ngày 29/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Chị T được nhận lại 25.020.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, không trăm hai mươi nghìn đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, chị T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết xem xét lại quá trình tố tụng, sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu của chị T.
Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt chị T, ông N, ông K, chị T vẫn tiếp tục ủy quyền cho ông N đại diện có đơn kháng cáo. Bà N1, chị V có đơn xin vắng mặt. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Chị Thu g nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.
Ông N trình bày: Việc giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công an huyện L thì Công an phải trả lại cho chị T nên đề nghị đưa Công an huyện L vào tham gia tố tụng giải quyết vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đối với ông K, do ông K có trình bày tại Công an huyện L là đồng ý liên đới cùng chị V trả tiền nợ cho chị T (không có văn bản) nên yêu cầu ông K, bà N1 cùng liên đới chị V có trách nhiệm trả nợ cho chị T.
Chị T thống nhất theo lời trình bày của ông N.
Ông K trình bày: Chị V đã có chồng nên ra riêng ở từ năm 2018, 2019 về tỉnh Trà Vinh sinh sống. Năm 2020 chị V về quê sinh sống. Đến tháng 7, 8/2023 thì chị T mới thông báo cho ông K biết việc chị V nợ chị T và yêu cầu ông K trả nợ. Ông K và bà N1 không biết về số nợ này, ông K cũng không có thỏa thuận đồng ý liên đới trả nợ cùng chị V tại Công an huyện L. Hiện nay chị V, bà N1 do bận công việc gia đình, đi làm nên không đến tham dự phiên tòa, ngoài ra cũng không có thỏa thuận gì khác với chị T nên đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề
5
nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị Cẩm T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
-
[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại yêu cầu gì khác.
-
[2] Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự. Qua thu thập chứng cứ Tòa án cấp sơ thẩm xét:
-
[2.1] Về việc giao kết hợp đồng vay giữa nguyên đơn và bị đơn:
Nguyên đơn chị T trình bày chị cho chị V vay tiền theo Hợp đồng vay ngày 23/02/2021 và Hợp đồng vay ngày 12/10/2021. Và xuất trình bản gốc hai hợp đồng vay cùng biên nhận nhận tiền có chữ ký ghi họ tên của chị V tại mục người vay tiền.
Chị V trình bày chị V có tự điền thông tin vào hai hợp đồng vay, biên nhận nhận tiền; có ký tên, ghi họ tên vào các văn bản này nhưng lúc đó chị V không tự nguyện mà do chị T gây sức ép buột chị V phải ghi và ký tên các văn bản này. Nhưng chị V đã khẳng định và thừa nhận mình không có chứng cứ chứng minh cho nội dung phản bác này.
Từ đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xác định việc giao kết hai hợp đồng vay được ghi nhận bằng hai văn bản do nguyên đơn xuất trình là sự thật, giữa nguyên đơn và bị đơn có giao kết các hợp đồng vay này.
-
[2.2] Về hiệu lực của các hợp đồng vay:
Khi chị T và chị V giao kết các hợp đồng vay này đều đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Chị V thừa nhận có tự điền thông tin, ký tên, ghi họ tên vào các hợp đồng vay này. Tuy chị V cho rằng mình bị ép buộc nhưng lại không có chứng cứ chứng minh. Đồng thời căn cứ vào mục đích vay tiền như chị T trình bày là để xoay sở việc gia đình hay để trang trãi làm ăn như chị V trình bày đều cho thấy mục đích, nội dung của giao dịch dân sự nêu trên không vi phạm điều cấm của luật cũng như không trái đạo đức xã hội. Hợp đồng vay được các bên ký kết đã đảm bảo các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự được quy định tại Điều 117 Bộ luật dân sự nên các hợp đồng vay này được công nhận và pháp luật bảo vệ.
-
[2.3] Về nội dung và quá trình thực hiện hợp đồng vay: Chị T khẳng định nội dung của hai hợp đồng vay này được thể hiện trên hai văn bản có tên là hợp đồng cho vay cá nhân do chị T xuất trình, khẳng định số tiền cho vay được ghi nhận trên cả hai hợp đồng là 1.000.000.000 đồng. Tuy chị V phản bác nội dung hai văn bản này đặc biệt là về số tiền vay, theo chị V thừa nhận có vay của chị T nhiều lần, tổng cộng số tiền vay chỉ là 430.000.000 đồng, chị T xuất trình bản chụp ảnh trắng đen hình ảnh sổ sách ghi chép quá trình tính toán tiền vay, nhưng tài liệu này không được chị T thừa nhận, chị V cũng không có gì để chứng minh
-
6
sự liên quan của văn bản này đối với việc vay tiền nên không đủ cơ sở để chứng minh cho nội dung phản bác của chị V. Từ đó, xác định lời trình bày của chị T về nội dung hai hợp đồng vay là có cơ sở. Cụ thể:
-
- Hợp đồng vay ngày 23/02/2021, nội dung được thể hiện bằng Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 23/02/2021 giữa người cho vay là chị T, người vay tiền là chị V; số tiền vay là 800.000.000 đồng; có thỏa thuận nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc trong hợp đồng vay này với mức lãi suất là 02%/tháng, không ghi nhận thời hạn vay, có ghi nhận tài sản thế chấp là tài sản và xe, nhưng các đương sự đều khẳng định chỉ ghi thôi chứ phía người vay là chị V không giao tài sản gì cho chị Thu g hay thế chấp gì cho chị T. Các đương sự thống nhất điều chỉnh mức lãi suất về 1,5%/tháng, xét thấy điều chỉnh này là tự nguyện phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
-
- Hợp đồng vay ngày 12/10/2021, nội dung được thể hiện bằng Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 12/10/2021 giữa người cho vay là chị T, người vay tiền là chị V; số tiền vay là 200.000.000 đồng; có thỏa thuận nghĩa vụ trả lãi trên nợ gốc trong hợp đồng vay này với mức lãi suất là 1,5%/tháng, không ghi nhận thời hạn vay, có ghi nhận tài sản thế chấp là bằng khoán ông Trần Văn D, chị V có giao bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D cho chị Thu g nhưng các đương sự đều khẳng định chỉ giữ chứ không có giao kết hợp đồng thế chấp và đăng ký đảm bảo theo quy định. Hiện phía chị T cho rằng đã giao nộp Giấy đất này cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L. Từ đó đủ cơ sở xác định đây là hợp đồng vay có lãi, không thời hạn và không có đảm bảo.
-
- Về quá trình thực hiện các hợp đồng vay: Sau khi giao kết mỗi hợp đồng vay, chị T xác định đã giao đủ tiền cho chị V trực tiếp nhận, trong nội dung hợp đồng cũng đã bao gồm nội dung xác nhận đã nhận đủ tiền vay. Chị V phủ nhận nội dung này mà đưa ra ý kiến phản bác rằng việc giao nhận tiện giữa hai bên diễn ra nhiều lần bằng hình thức chuyển khoản, sau khi chốt nợ chị V chỉ vay là 430.000.000 đồng chứ không như hai hợp đồng vay ghi nhận, dù vậy chị V cũng không xuất trình chứng cứ gì để chứng minh nội dung này. Vì thế căn cứ vào nội dung hai hợp đồng vay, biên nhận nhận tiền xác định chị T đã giao đủ số tiền vay cho cả hai hợp đồng là 1.000.000.000 đồng cho chị V nhận trực tiếp là sự thật.
Theo chị T sau khi nhận tiền vay, chị V không trả bất cứ khoản tiền nào cho chị T, còn chị V cho rằng mình vay nhiều lần, có trả lãi và gốc nhiều lần, sau khi tính toán thì nợ 430.000.000 đồng tiền nợ gốc. Đồng thời chị V căn cứ vào nội dung biên bản ghi lời khai của hai bên về nội dung hai bên thỏa thuận nếu chị V có thể trả chị T tổng cộng 430.000.000 đồng theo thời hạn và cách thức chị T ấn định thì xem như thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho cả hai hợp đồng vay này. Chị T thừa nhận có thỏa thuận như vậy tại Công an nhưng chỉ là thỏa thuận, bản thân chị V là người không thực hiện đúng thỏa thuận nên nay chị T không đồng ý nội dung thỏa thuận đó nữa.
Chị T vẫn giữ nguyên ý kiến, xác định đến nay chị V vẫn nợ chị T số tiền nợ gốc trên cả hai hợp đồng là 1.000.000.000 đồng. Căn cứ tài liệu chứng cứ hai bên xuất trình và nội dung tranh tụng xác định lời trình bày của nguyên đơn về
7
số tiền nợ gốc hiện còn trên hai hợp đồng vay và chị V chưa thực hiện nghĩa vụ trả lãi trong cả hai hợp đồng kể từ ngày vay cho đến nay là đúng sự thật.
-
[2.4] Về yêu cầu của nguyên đơn.
-
- Về yêu cầu trả số tiền nợ gốc và nợ lãi: Do chị V không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, nên chị T có quyền đòi lại tiền nợ gốc là 1.000.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày vay tiền cho đến khi trả xong nợ là phù hợp quy định. Do chị T tự nguyện xác định yêu cầu về tiền lãi theo hướng phù hợp quy định pháp luật và có lợi cho phía chị V nên chấp nhận số tiền lãi mà chị T yêu cầu.
-
- Về yêu cầu nghĩa vụ liên đới, chị T căn cứ vào mục đích vay tiền được ghi nhận trong nội dung hai hợp đồng vay là giải quyết chuyện gia đình để xác định việc chị V vay tiền nhằm sử dụng chung cho gia đình của chị V gồm ông K, bà N1 là cha mẹ chị V (Những người này có mối quan hệ gia đình, cùng đăng ký thường trú trong hộ) và việc ông K có đứng ra thỏa thuận nhận nợ và trả nợ cùng chị V để yêu cầu chị V, ông K, bà N1 phải có nghĩa vụ liên đới trả số tiền nợ vay này cho chị T.
Nội dung yêu cầu này của chị T không được chị V thừa nhận vì chị V vay tiền của chị T là để cho vay lại, phục vụ mục đích làm ăn của bản thân, không mang tiền về chi tiêu, sử dụng trong gia đình nên không đồng ý nghĩa vụ liên đới, bản thân cũng không yêu cầu ông K và bà N1 có nghĩa vụ liên đới trả tiền cho chị T cùng chị V.
Ông K và bà N1 được tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng, triệu tập nhưng không có văn bản ý kiến, không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án.
Cả hai hợp đồng vay là quan hệ dân sự được xác lập giữa cá nhân chị V với chị T, không dùng tư cách hộ gia đình để tham gia, cho nên nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng vay này do chị V tự chịu, hoàn toàn không phải là nghĩa vụ chung của hộ gia đình. Mặt khác, tuy nội dung hai hợp đồng vay ghi nhận mục đích là vay để giải quyết chuyện gia đình, nhưng chị T không cung cấp được chứng cứ thể hiện những người liên quan là ông K và bà N1 có biết, có cùng vay hoặc cùng sử dụng phần tiền vay này nên không có cơ sở để buộc ông K và bà N1 có nghĩa vụ liên đới cùng chị V. Do đó không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của chị T. Mà chỉ buộc chị V có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay nêu trên cho chị T.
-
- Về yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện L trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn D:
Xét thấy việc xác lập quyền quản lý bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này của chị V và việc chuyển giao từ chị V sang chị T đều không có căn cứ pháp luật, nên xác định việc chiếm hữu quản lý Giấy tờ này là không phù hợp với quy định pháp luật. Các bên thống nhất không có giao kết hợp đồng thế chấp, không thực hiện giao dịch đảm bảo theo đúng trình tự pháp luật đối với quyền sử dụng đất được thể hiện trên giấy chứng nhận này.
Việc Cơ quan điều tra thu giữ giấy tờ này theo Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 16/5/2022 là thực hiện theo trình tự pháp luật tố tụng hình sự để giải quyết nguồn tin tố giác tội phạm, nên việc xử lý giao trả giấy chứng nhận đã nêu sẽ thực hiện theo thủ tục này. Ngoài ra phía chị V cũng
-
8
khẳng định không ý kiến yêu cầu chị T phải giao trả giấy này trong quá trình thực hiện nghĩa vụ mà đồng ý để Cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.
Do đó xác định chị T không có quyền yêu cầu đòi lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH 03656 do hộ ông Trần Văn D, sinh năm: 1962, địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện L đứng tên quyền sử dụng, được Ủy ban nhân dân huyện L cấp ngày 05/9/2012, đối với thửa đất số 151, tờ bản đồ số 14, vì thế có đủ cơ sở để không chấp nhận yêu cầu này của chị T.
-
[3] Do phần nghĩa vụ của chị V là phần nghĩa vụ trong hợp đồng vay có thỏa thuận về việc trả lãi và có thỏa thuận mức lãi suất cụ thể nên nghĩa vụ chậm thi hành án trên số tiền còn phải thi hành án của người phải thi hành án được thực hiện theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
-
[4] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
-
[5] Đồng thời căn cứ vào quyết định nội dung để quyết định án phí, chi phí tố tụng các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.
-
[6] Sau khi xét xử sơ thẩm thì chị T kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T và không cung cấp thêm chứng cứ gì mới.
-
[7] Tại các phiên tòa phúc thẩm, các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.
Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ngoài nhận định Tòa án cấp sơ thẩm ra các đương sự thống nhất đối với căn cứ yêu cầu đưa Công an huyện L vào tham gia tố tụng giải quyết vụ án thì qua xem xét lời trình bày của chị T về hợp đồng vay và việc giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D là không đúng theo quy định pháp luật. Qua quá trình xem xét giải quyết ngày 20/9/2022 thì Công an huyện L đã xác định chủ sở hữu là bà H nên đã trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H nhận. Tại Tòa án cấp sơ thẩm các đương sự cũng không có yêu cầu gì về việc quản lý giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công an huyện L nên việc yêu cầu đưa Công an huyện L vào tham gia tố tụng giải quyết vụ án và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông D cho chị Thu g là không có căn cứ nên không chấp nhận.
Đối với hợp đồng vay được ghi nhận là hợp đồng cho cá nhân vay tiền giữ chị T và chị V. Tại phiên tòa ông K không thừa nhận việc có biết hợp đồng này, không có sử dụng số tiền của chị T cho chị V vay. Sau khi chị V không có khả năng trả nợ thì chị T có yêu cầu ông K liên đới trả nợ cùng chị V, ông K cũng không đồng ý. Chị T không có căn cứ chứng minh ông K, bà N1 có liên quan đến số tiền chị V vay; ông K không thừa nhận, không đồng ý trả nợ cùng chị V nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T là có căn cứ.
Do việc giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm có căn cứ, chị T kháng cáo không có căn cứ gì chứng minh nên không chấp nhận kháng cáo của chị T.
9
Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T là đúng theo quy định pháp luật.
-
[8] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị T; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
[9] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên chị T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Không chấp nhận kháng cáo của chị Nguyễn Thị Cẩm T.
- - Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu số tiền án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003449 ngày 13/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. Chị T không phải nộp thêm.
Buộc chị Nguyễn Thị Thùy V có nghĩa vụ trả cho chị Nguyễn Thị Cẩm T số tiền nợ gốc trong hai hợp đồng vay được ghi nhận trong Hợp đồng cho cá nhân vay tiền đề ngày 23/02/2021, và Hợp đồng cho cá nhân vay tiền ngày 12/10/2021 và tiền nợ lãi của cả hai hợp đồng tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng cộng là 1.288.000.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Thùy V phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 50.640.000 đồng.
Chị Nguyễn Thị Cẩm T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 25.320.000 đồng theo Biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016679, ngày 29/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Chị T được nhận lại 25.020.000 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
10
dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Chí Tâm |
11
Bản án số 209/2024/DS-PT ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp vay tài sản
- Số bản án: 209/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NĐ: Nguyễn Thị Cẩm Thu BĐ: Nguyễn Thị Thùy Vân
