Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/DS-PT

Ngày: 24 - 4 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những

Bà Lê Thị Bích Tuyền

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.

Vào ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 472/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 180/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 872/2023/QĐ-PT ngày 15 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960.

    Địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1967, địa chỉ: Số nhà H, đường L, phường D, thành phố T, tỉnh Long An (giấy ủy quyền ngày 18 tháng 5 năm 2022).

  2. Bị đơn:
    1. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1951.

      Địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.

    2. Bà Đặng Thị N1, sinh năm 1973.

      Địa chỉ: Số nhà C, đường N, Phường D, thành phố T, tỉnh Long An.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trần Thị Á, sinh năm 1957, địa chỉ: Số nhà B, đường N, Khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
    2. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1957, địa chỉ: Số nhà A, đường N, khu phố B, Phường C, thành phố T, tỉnh Long An.
    3. Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1958, địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.
    4. Ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1962, địa chỉ: Số nhà B, ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
    5. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1964, địa chỉ: Số nhà C, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Long An.
    6. Ông Nguyễn Văn N2, sinh năm 1965, địa chỉ: Số nhà B, đường C, khu phố S, phường S, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
    7. Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1969, địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.
    8. Ông Nguyễn Văn N4, sinh năm 1971, địa chỉ: Số nhà B, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Long An.
    9. Bà Nguyễn Thị Mỹ H, sinh năm 1973, địa chỉ: Số nhà B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.
    10. Bà Nguyễn Thị N5, sinh năm 1973, địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An.
    11. Ông Nguyễn Văn N6, sinh năm 1975, địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã H, huyện C, tỉnh Long An.

    Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị Á, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N4, ông Nguyễn Văn N6: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960, địa chỉ: Số B, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An (giấy ủy quyền ngày 02 tháng 6 năm 2022, ngày 01/12/2023 và ngày 11/3/2024).

  4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn N3, sinh năm 1969, địa chỉ: Số nhà A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An. (vắng mặt)

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N

(Ông C, bà N, bà N1 có mặt;

Các đương sự còn lại vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn trình bày trong đơn khởi kiện, trong bản tự khai và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Trần Văn C trình bày trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Cha bà N là ông Nguyễn Văn N7, sinh năm 1934, chết ngày 28 tháng 3 năm 2006. Mẹ bà N là bà Võ Thị G, sinh năm 1935, chết năm 2020, cha mẹ bà N có 12 người con, gồm: Bà Trần Thị Á, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Đ, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Văn N4, bà Nguyễn Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị N5, ông Nguyễn Văn N6.

Cha mẹ bà N có thửa đất số 21, tờ bản đồ số 1 xã B, diện tích là 3.815 m², loại đất vườn, đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Long An, đất do cha bà N đứng tên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2001, cha bà N đã chuyển nhượng phần đất có diện tích là 180 m², thuộc một phần thửa đất số 21 cho bà Hồ Thị C2 (là mẹ bà Nguyễn Thị Tuyết M). Khi chuyển nhượng đất cho bà C2, cha bà N và bà C2 có thực hiện thủ tục chuyển nhượng đất theo quy định, bà C2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001, là thửa đất số 922, tờ bản đồ số 1, xã B, diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C2 là 180 m². Đến ngày 10 tháng 12 năm 2010, không rõ vì lý do gì mà bà Hồ Thị C2 được UBND huyện C cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thành thửa đất số 05, tờ bản đồ số 11, diện tích 275,3 m² (tăng 95,3 m²), đã lấn sang phần còn lại của thửa đất số 21 nêu trên. Sau đó, bà Hồ Thị C2 đã chết. Tháng 5 năm 2017, bà Nguyễn Thị Tuyết M nhận thừa kế thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11 xã B, với diện tích là 275,3 m².

Tháng 6 năm 2017, bà Nguyễn Thị Tuyết M đã chuyển nhượng toàn bộ thửa đất số 05, tờ bản đồ số 11, diện tích 275,3 m² cho bà Đặng Thị N1. Hiện nay bà N1 đứng tên thửa số 05 tờ bản đồ số 11 xã B.

Nay, bà N yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Đặng Thị N1 trả lại phần đất có diện tích là 95,3 m² đã lấn chiếm, thuộc một phần thửa đất số 21 nêu trên cho các anh chị em của bà N.

Bị đơn là bà Đặng Thị N1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Bà N1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ bà M, số tiền chuyển nhượng đất là 35.000.000 đồng, khi nhận chuyển nhượng đất thì thửa đất số 05 tờ bản đồ số 11, diện tích là 275,3 m², bà N1 không có lấn chiếm đất, nên bà N1 không đồng ý đối với yêu cầu của bà N. Hiện nay, bà N1 chưa sử dụng thửa đất này, giữa thửa đất của bà M và các thửa đất giáp ranh có ranh giới rõ ràng. Bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Mỹ H trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Các đương sự đồng ý với nội dung khởi kiện của bà N, các đương sự yêu cầu bà M trả lại cho bà N phần đất tranh chấp có diện tích là 95,3 m², thuộc một phần thửa đất số 21 nêu trên.

Người đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị Á, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N4, ông Nguyễn Văn N6 là bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà Trần Thị Á, ông Nguyễn Văn S, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N4, ông Nguyễn Văn N6 trình bày và yêu cầu như bà Nguyễn Thị N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 180/2023/DS-ST ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An đã căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Các Điều 129, 164, 166 và 175 của Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 12 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N, buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị N, bà Trần Thị Á, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Văn N4, bà Nguyễn Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị N5, và ông Nguyễn Văn Nó giá trị quyền sử dụng đất phần đất có diện tích 95,3 m², thuộc một phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11 xã B, với số tiền là 14.295.000 đồng (mười bốn triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn đồng).
  2. Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tranh chấp với tổng số tiền là 5.944.000 đồng (năm triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng), bà Nguyễn Thị N đã nộp tạm ứng số tiền này, buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền là 5.944.000 đồng (năm triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
  3. Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  4. Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà Nguyễn Thị Tuyết M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.

Ngày 09/10/2023, nguyên đơn là Nguyễn Thị N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Đặng Thị N1 trả lại phần đất có diện tích là 95,3 m² đã lấn chiếm, thuộc một phần thửa đất số 21 cho các anh chị em của bà N và yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm định giá lại đối với phần đất tranh chấp.

Tại phiên tòa phúc thẩm,

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Văn C trình bày: Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Đặng Thị N1 trả lại phần đất có diện tích là 95,3 m² cho các anh chị em của bà N. Trường hợp không trả được bằng đất thì ông đồng ý trả bằng giá trị theo kết quả định giá của Công ty H1 là 93.203.400 đồng.

Bị đơn là bà Đặng Thị N1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án: Bà N1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp từ bà M, số tiền chuyển nhượng đất là 35.000.000 đồng, khi nhận chuyển nhượng đất thì thửa đất số 05 tờ bản đồ số 11, diện tích là 275,3 m², bà N1 không có lấn chiếm đất, nên bà N1 không đồng ý đối với yêu cầu của bà N. Hiện nay, bà N1 chưa sử dụng thửa đất này, giữa thửa đất của bà M và các thửa đất giáp ranh có ranh giới rõ ràng. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa phát biểu:

Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị N kháng cáo yêu cầu buộc bà M, bà N1 trả lại cho bà N phần diện tích đất 95,3m² thuộc một phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11, xã B, huyện C, tỉnh Long An, yêu cầu định giá lại phần đất tranh chấp.

Theo công văn số 2437/UBND-NC ngày 08 tháng 9 năm 2023 của UBND huyện C, UBND huyện C xác nhận việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị C2 đối với thửa đất số 05 tờ bản đồ số 11 là không đúng theo quy định của pháp luật về đất đai (không đúng diện tích đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất). Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại các Điều 164, 166 và 175 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 203 của Luật đất đai năm 2013, chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N là phù hợp.

Tại Tòa án cấp phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu định giá lại và đồng ý nhận giá trị (theo giá mới) đối với diện tích đất 95,3m² số tiền phải trả là 93.203.400 đồng.

Căn cứ vào giá đã định tại cấp phúc thẩm, sự tự nguyện nhận giá trị của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M trả giá trị 95,3m² đất cho nguyên đơn với số tiền là 93.203.400 đồng, sửa bản án sơ thẩm theo khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị N thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.

Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:

Nguyên đơn yêu cầu buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M, bà Đặng Thị N1 trả lại phần đất có diện tích là 95,3 m², thuộc thửa đất số 05, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Long An.

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà M thanh toán giá trị đất. Sau khi xét xử sơ thẩm, bà N kháng cáo yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bị đơn trả đất. Tại phiên tòa yêu cầu nhận giá trị đất theo kết quả định giá mới. Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.

[4] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, thấy rằng:

[4.1] Bà Nguyễn Thị N yêu cầu bà Nguyễn Thị Tuyết M và bà Đặng Thị N1 trả cho bà Nguyễn Thị N và anh em bà N phần đất lấn chiếm có diện tích là 95,3 m², thuộc một phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Long An do bà Đặng Thị N1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo Mãnh trích đo bản đồ địa chính số 15-2023 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C đo vẽ ký duyệt ngày 20 tháng 3 năm 2023 thì phần đất tranh chấp thuộc khu B có diện tích là 117,7 m², thuộc một phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11, do bà Đặng Thị N1 đứng tên. Trên phần đất tranh chấp, bà N có trồng 03 bụi chuối sát với đê bao sông V, trồng vào năm 2022 (khi đất đã có tranh chấp).

Kết quả định giá theo chứng thư thẩm định giá số 120/29/03/2024/TĐG LA-BĐS ngày 29/3/2024 của Công ty cổ phần H1 thì phần đất tranh chấp có giá trị: 95,3 m² x 978.000 đồng/m² = 93.203.400 đồng. Nguyên đơn đồng ý theo kết quả định giá, bà N1 không có ý kiến đối với kết quả định giá.

[4.2] Thấy rằng vào ngày 24 tháng 8 năm 2001, cha bà N là ông Nguyễn Văn N7 đã chuyển nhượng phần đất có diện tích là 180 m², thuộc một phần thửa đất số 21 cho bà Hồ Thị C2 (là mẹ bà Nguyễn Thị Tuyết M), hợp đồng có chứng thực của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Long An. Bà C2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2001 đối với thửa đất số 922, tờ bản đồ số 1, xã B, diện tích cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà C2 là 180 m². Đến ngày 10 tháng 12 năm 2010, bà Hồ Thị C2 được UBND huyện C cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thành thửa đất số 05, tờ bản đồ số 11, diện tích 275,3 m² (tăng 95,3 m²). Sau khi bà Hồ Thị C2 chết thì năm 2017, bà Nguyễn Thị Tuyết M nhận thừa kế thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11, với diện tích là 275,3 m². Ngày 12/6/2017, bà M chuyển nhượng cho bà Đặng Thị N1 toàn bộ thửa đất này, hai bên giao nhận tiền và đất xong.

[4.3] Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án thu thập chứng cứ: Tại công văn số 2437/UBND-NC ngày 08 tháng 9 năm 2023 của UBND huyện C, tỉnh Long An xác nhận việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị C2 đối với thửa đất số 05 tờ bản đồ số 11 là không đúng theo quy định của pháp luật về đất đai (không đúng diện tích đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất).

Thời điểm bà Nguyễn Thị Tuyết M nhận thừa kế thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11, với diện tích là 275,3 m² tọa lạc tại xã B bà M cũng không biết việc Ủy ban nhân dân huyện C cấp đổi sai diện tích cho bà C2. Sau đó, bà Nguyễn Thị Tuyết M đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích 275,3 m² cho bà Đặng Thị N1. Khi bà Đặng Thị N1 nhận chuyển nhượng bà N1 cũng không biết được việc cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Hồ Thị C2 đối với thửa đất số 05 tờ bản đồ số 11 là không đúng theo quy định của pháp luật về đất đai (không đúng diện tích đất theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất), bà M và bà N1 đã giao nhận tiền và đất xong nên bà Đặng Thị N1 là người thứ ba ngay tình. Bà N khởi kiện yêu cầu bà N1 phải có nghĩa vụ cùng bà M trả giá trị đất là không phù hợp.

[4.4] Bà Nguyễn Thị Tuyết M được thừa kế quyền sử dụng đất từ bà Hồ Thị C2, sau đó bà M chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Đặng Thị N1, được hưởng lợi ích từ việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Phần đất tranh chấp không đủ diện tích tối thiểu để tách thửa nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị N cùng các anh chị em của bà Nguyễn Thị N giá trị quyền sử dụng đất, với số tiền là 14.295.000 đồng (95,3 m² x 150.000 đồng/m²) là phù hợp.

Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn yêu cầu định giá lại và đồng ý nhận giá trị theo kết quả định giá mới. Thấy rằng theo kết quả định giá cũ không còn phù hợp tại thời điểm xét xử phúc thẩm nên nguyên đơn yêu cầu giải quyết theo kết quả định giá mới là có căn cứ nên chấp nhận.

Theo kết quả định giá của Công ty H1 thì phần đất tranh chấp có giá trị là 95,3 m² x 978.000 đồng/m² = 93.203.400 đồng. Cần buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà N và anh chị em bà N số tiền 93.203.400 đồng.

Các cây trồng trên đất các đương sự không yêu cầu nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.

[5] Xét thấy kháng cáo của bà N có căn cứ nên chấp nhận.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tranh chấp với tổng số tiền là 5.944.000 đồng, bà Nguyễn Thị N đã nộp tạm ứng số tiền này. Do yêu cầu của bà Nguyễn Thị N được chấp nhận, nên bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu chi phí này.

[8] Chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: 10.000.000 đồng bà Nguyễn Thị N đã nộp tạm ứng số tiền này, bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền là 10.000.000 đồng

[9] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết M là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[10] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Nguyễn Thị N được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.

Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 180/2023/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Long An.

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 228, 235, 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 203 của Luật đất đai năm 2013; Các Điều 129, 164, 166 và 175 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 12 và 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Nguyễn Thị N đối với bà Nguyễn Thị Tuyết M về tranh chấp quyền sử dụng đất.

    Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị N, bà Trần Thị Á, ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị Đ, ông Nguyễn Văn C1, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn N3, ông Nguyễn Văn N4, bà Nguyễn Thị Mỹ H, bà Nguyễn Thị N5 và ông Nguyễn Văn Nó giá trị quyền sử dụng đất phần đất có diện tích 95,3 m², thuộc một phần thửa đất số 5, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Long An với số tiền là 93.203.400 đồng (Chín mươi ba triệu, hai trăm lẻ ba ngàn, bốn trăm đồng).

    Kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chậm thi hành án, thì người phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  2. Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bà Đặng Thị N1.
  3. Chi phí tố tụng ở cấp sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản tranh chấp với tổng số tiền là 5.944.000 đồng, bà Nguyễn Thị N đã nộp tạm ứng số tiền này, buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền là 5.944.000 đồng.
  4. Chi phí tố tụng ở cấp phúc thẩm: 10.000.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị Tuyết M có nghĩa vụ trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền là 10.000.000 đồng.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

    Bà Nguyễn Thị Tuyết M được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS; AV./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 209/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger