|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 209/2023/HS-ST Ngày 21/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Đình Hưng
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Vân.
- Bà Nguyễn Thị Vượng.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện VKSND thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Minh N – Kiểm sát viên.
Trong ngày 21/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 207/2023/HSST ngày 27/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2021/QĐXXST – HS ngày 06/11/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý Văn H, sinh năm 1986; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Bản Diễn, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Văn hóa: 9/12; Bố: Lý Văn H1, sinh năm 1964; Mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1968; Gia đình có bốn anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Lê Thị T, sinh năm 1988; Có hai con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 04/12/2015 bị Công an huyện Y xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, (Có mặt tại phiên tòa).
* Bị hại:
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1984, (Có mặt).
- Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1980 (Đã chết).
Địa chỉ: Số nhà G, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện theo pháp luật của bị hại:
- - Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1984.
- - Cháu Nguyễn Phương A, sinh năm 2007, (Có mặt).
- - Cháu Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 2006.
- - Bà Lê Thị L, sinh năm 1951.
- - Anh Nguyễn Hữu O, sinh năm 1983.
Đều địa chỉ: Số nhà G, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1977.
Địa chỉ: Số nhà H, ngõ B, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Cháu Phương A, cháu Trà M, bà L, anh O, chị Y đều ủy quyền cho chị Nguyễn Thị P, (Có mặt).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Bùi Văn L1, sinh năm 1988, (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Văn H, sinh năm 1986, trú tại Bản D, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang hợp đồng lái xe thuê cho anh Bùi Văn L1, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh L1 giao cho H điều khiển chiếc xe ô tô tải nhãn hiệu CNHTC màu xanh biển kiểm soát 98C-226.17 để chở đất từ xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đến khu đất mới ở xã S, thành phố B. H có Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh B cấp vào ngày 09/12/2021.
Khoảng 10 giờ ngày 02/6/2023, Lý Văn H điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 98C-226.17 đi từ khu đất mới xã S, thành phố B đến xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để lấy đất về đổ. Khi H điều khiển xe đi trên đường Đ 1 đến khu vực ngã tư giao với đường Đ thuộc địa phận xã S, thành phố B thì anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1980, trú tại số nhà G, ngõ A, đường L, phường L, thành phố B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 chở vợ là Nguyễn Thị P, sinh năm 1980 đi theo hướng từ đường Đ ở phía bên trái theo chiều đi của xe ô tô do H điều khiển. Anh C có giấy phép lái xe mô tô theo quy định. Do H điều khiển xe không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ khi đi vào khu vực ngã tư nên xe ô tô do H điều khiển đã va chạm với xe mô tô do anh C điều khiển. Sau khi va chạm, anh C bị cuốn vào gầm xe ô tô và bị bánh xe ô tô phía trước bên trái đè lên và kéo đi, chị P bị ngã xuống đất nhưng không bị thương tích. H phanh xe và điều khiển xe di chuyển thêm khoảng 6-7 mét thì dừng lại. Hậu quả làm anh C bị thương nặng sau đó bị chết trên đường đưa đi cấp cứu.
Phiếu kết quả xét nghiệm hóa sinh đối với Nguyễn Thành C ngày 02/6/2023 có định lượng ethanol (cồn) trong máu là 78mg/dL. Kiểm tra nồng độ cồn và ma túy của Lý Văn H: Không phát hiện có nồng độ cồn trong hơi thở, âm tính với ma túy (bút lục 113, 115).
* Kết quả khám nghiện hiện trường: Hiện trường của đoạn nơi xảy ra tai nạn là ngã tư đường Đ- Đ 4 thuộc địa phận thôn S, xã S, thành phố B. Đây là ngã tư giao nhau đồng cấp, cùng mức không có biển báo. Đường Đ là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 7,5m. Đường Đ 4 là đường hai chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng rộng 7,5m.
Xác định điểm mốc và mốt trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn: Đường Đ, chọn 1 cột đèn chiếu sáng ký hiệu D4A11 bên trái làm điểm mốc và chọn mép trái đường làm mép chuẩn để mô tả hiện trường bên phải, bên trái đường Đ tính theo chiều từ thôn S đi Quốc lộ A.
Vị trí số 1 là vị trí xe ô tô biển số 98C-226.17 đỗ trên đường, đầu xe chếch hướng N1, đuôi xe chếch hướng Bắc đo khoảng cách từ tâm trục bánh trước bên trái xe (1) cách điểm mốc và mép chuẩn lần lượt là 5,6m và 4,2m. Đo khoảng cách từ tâm trục bánh sau bên trái xe (1) cách mép chuẩn là 3,4m.
Vị trí số 2 là vị trí xe mô tô biển số 98B1-123.86 đổ nghiêng trái trên mặt đường, đầu xe chếch hướng T, đuôi xe chếch hướng Đông Nam, đo khoảng cách từ trục bánh trước của xe (2) cách mép chuẩn là 1,65m, đo khoảng cách từ tâm trục bánh sau xe máy (2) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh sau bên trái xe ( 1) lần lượt là 1,1m và 4,05m.
Vị trí số 3 là vị trí vết cày xước trên mặt đường kích thước ( 1,9 x 0,6)m có chiều hướng từ Đ sang T đo khoảng cách từ cuối vết xước (3) cách mép chuẩn là 2,85m, đo khoảng cách từ đầu vết (3) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh trước xe (2) lần lượt là 1,0m và 3,8m.
Vị trí số 4 là vị trí vết cày xước trên mặt đường kích thước (4,9 x 0,4)m có chiều hướng từ T sang Đ kết thúc tại vị trí xe (2), đo khoảng cách từ đầu vết số 4 cách mép chuẩn và cách cuối vết số 3 lần lượt là 3,15m và 0, 45m.
Vị trí số 5 là vị trí vết mài trượt cao su dạng nét đơn trên mặt đường kích thước (14,5 x 0,25)m có chiều hướng từ Bắc sang N kết thúc tại vị trí bánh trước bên trái xe (1). Đo khoảng cách từ đầu vết (5) cách mép chuẩn và cách đầu vết (4) lần lượt là 3,2m và 0, 45m.
Vị trí số 6 là vị trí vết mài trượt cao su dạng nét kép trên mặt đường kích thước (13 x 0,3)m có chiều hướng từ Bắc sang N kết thúc tại vị trí bánh sau bên phải (1). Đo khoảng cách từ đâu vết (6) cách mép chuẩn và cách đầu vết (5) lần lượt là 5,25m và 5,5m.
Vị trí số 7 là vị trí vết màu đỏ (nghi máu) trên mặt đường kích thước (3,5 x 0,8)m. Đo khoảng cách từ tâm vết (7) cách mép chuẩn và cách tâm trục bánh trước bên trái xe (1) lần lượt là 4,2m và 1,7m.
Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra đã tạm giữ xe ô tô BKS biển số 98C-226.17 và xe mô tô mang BKS: 98B1-123.86 (bút lục 68-96).
* Kết quả khám nghiệm tử thi Nguyễn Thành C
Khám ngoài: Thái dương tai có chợt da kích thước (12 x 6)cm. Sau tai trái có đám chợt da kích thước (10 x 4) cm. Hai mắt nhắm tự nhiên, mũi, miệng khô. Hai tai chảy máu màu đỏ. Hố mắt trái bầm tím kích thước (6 x 3)cm. Cổ chắc, không thấy dấu vết thương tích.
Vùng thượng vị có vết bầm tím kích thước (15 x 2)cm. Vùng sườn phải có đám chợt da bầm tím kích thước (26 x 19). Gãy 1/3 giữa xương ức. Bả vai phải có vết chợt da kích thước (14 x 10)cm. Bả vai trái, cánh tay trái, cẳng tay trái có vết chợt da kích thước (86 x 29)cm. Trong đó vùng cẳng tay trái dập nát mất một phần da, cơ và xương. Vùng thắt lưng trái có vết chợt da kích thước kích thước (17 x 3)cm. Lưng có đám chợt da kích thước (33 x 20)cm.
Ngón 2 và ngón 3 bàn tay phải có 02 vết chợt da kích thước (1,5 x1)cm và (1 x 0,5)cm.Gối phải có đám chợt da bầm tím kích thước (12 x 7)cm.Mặt trước trong 1/3 dưới đùi trái có đám chợt da bầm tím kích thước (11 x 4)cm. Mặt trong gối trái có vết bầm tím kích thước (7 x 3) cm. Mặt ngoài gối trái và 1/3 trên cẳng chân trái có vết chợt da kích thước (22 x 13)cm. Mặt trong 1/3 giữa cẳng chân trái có 03 vết chợt da kích thước (7 x 2)cm; (10 x 1,5)cm và (4,5 x 1,5)cm. Mặt sau 1/3 dưới cẳng chân trái và cổ chân trái có đám chợt da bầm tím kích thước (10 x 4)cm.Bộ phận sinh dục không tổn thương. Hậu môn không thoát phân. Khám kỹ bên ngoài không phát hiện tổn thương khác.
Mổ tử thi
Ngực bụng: Không thấy tụ máu dưới da cơ thành ngực và thành bụng, gãy xương ức, gãy xương sườn số 2,3,4,5 bên trái. Gãy xương sườn số 2,3,4,5,6,7,8,9 bên phải. Khoang lồng ngực hai bên khô. Màng phổi trái dính vào thành ngực. Tim màu nâu không tổn thương. Phổi màu hồng, thấy trên phổi phải bầm dập kích thước (4,5x4)cm, thùy giữa phổi phải bầm dập kích thước (5x4)cm. Phổi trái không thấy tổn thương. Ở bụng khô, các tạng trong ổ bụng không thấy tổn thương.
Sọ não: Bộc lộ da đầu thấy tụ máu dưới da vùng thái dương trái kích thước (7x5)cm. Vỡ xương sọ vùng thái dương trái kích thước (7x0,3)cm. Qua khe xương vỡ có máu màu đỏ chảy ra ngoài (bút lục 101-102).
* Kết quả khám nghiệm xe máy nhãn hiệu Yamaha YX125CB BKS 98B1-123.86
Mặt đồng hồ công tơ mét dập vỡ kính nhựa kích thước đường kính 7,5cm. Ốp nhựa ngoài đèn pha trước nứt vỡ nhựa kích thước (6 x0,5)cm.
Khung kim loại bảo vệ đèn pha trước cong vênh kim loại hướng từ sau về trước từ phải sang trái, bề mặt có những vết mài sát bám dính chất màu vàng nghi sơn, màu đen nghi cao su, kích thước trên diện (22 x19)cm.
Cánh yếm phải tại vị trí thấp nhất cách đất 46cm có vết nứt vỡ lật khỏi vị trí cố định bề mặt mài xát bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (44 x 25)cm.
Càng giảm xóc cong chùn kim loại hướng phải sang trái, từ sau về trước.Tại vị trí mặt ngoài càng giảm xóc bên phải có nhiều vết mài xát kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (37 x 5) cm. Điểm thấp nhất cách đất 23cm.
Dây đo công tơ mét đứt rời khỏi vị trí cố định, trục bánh trước cong gập hướng từ sau về trước, mặt ngoài vành bánh trước bên phải tại vị trí chân van có nhiều vết ma xát kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (13 x 13)cm. Vỡ khuyết chắn bùn trước bánh trước.
Mặt ngoài mặt lốp trước bên trái tại vị trí gần nhất cách chân van 17cm theo chiều kim đồng hồ có vết mài xát cao su sạch bụi kích thước (15 x6)cm. Khung kim loại cố định đèn xi nhan phía trước bên trái cong vênh hướng từ trái sang phải, cạnh ngoài có vết mài xát kim loại kích thước (5,5 x 0,3)cm.
Mặt ngoài ốp nhựa đồng hồ công tơ mét có vết mài xát nhựa kích thước (9 x 4)cm. Tay phanh trái bật gẫy kim loại khỏi vị trí cố định.
Cánh yếm trái tại vị trí thấp nhất cách đất 56cm. Có nhiều vết dập vỡ lật khỏi vị trí cố định bề mặt mài xát nhựa tổng kích thước (52 x 21)cm.
Cạnh ngoài chân chống phụ bên trái có vết mài xát kim loại bám dính chất màu trắng rạn vỡ bê tông kích thước (2x0,5)cm.Cạnh ngoài cần đẩy chân chống chính bên trái có nhiều vết ma xát kim loại bám dính chất màu trắng rạn vỡ bê tông kích thước (19 x3) cm.
Mặt ngoài ốp nhựa sườn bên trái có vết mài xát kích thước (20 x5)cm. Mặt ngoài khung sườn bên trái có vết mài xát kim loại (6 x 2)cm. Mặt ngoài ốp nhựa lọc gió bên trái có vết mài xát kích thước (9 x 3)cm. (Bút lục 40-60)
* Kết quả khám nghiệm xe ô tô nhãn hiệu CNHTC BKS 98C-226.17
Đo kích thước chiều dài 10,625m; kích thước chiều cao 3,75m; kích thước chiều rộng 2,496m; kích thước chiều dài cơ sở (1,8 x 3,8 x1,35)m
Mặt ngoài má lốp trước bên trước bên trái tại vị trí gần nhất cách chân van ngược chiều kim đồng hồ có nhiều vết cao su sạch bụi kích thước (56x22)cm (bút lục 61-67).
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định nguyên nhân chết của anh Nguyễn Thành C và cơ chế hình thành dấu vết trong vụ tai nạn giao thông.
Kết luận giám định pháp y về tử thi số 4593/KLGĐTT-TTPY ngày 20/6/2023 của Trung tâm Pháp y - Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
Nguyên nhân chết: Đa chấn thương do tai nạn giao thông (bút lục 22-23).
Kết luận giám định số 1181/KL-KTHS ngày 28/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
1. Dấu vết mài sát cao su, sạch bụi đất, bám dính chất màu xám (dạng sơn) tại má ngoài lốp bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 98C-226.17, có hướng ngược chiều chuyển động tiến (ảnh số 5 đến số 8 bản ánh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết chùn cong, gãy vỡ, mài sát sơn, nhựa, cao su, kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) tại bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 gồm: cánh yếm, giá bảo vệ đèn pha, giảm sóc, đầu trục, lốp và vành bánh trước (ảnh số 7, 10, 12, 14, 15, 19, 20, 22 bản ảnh khám phương tiện). Vị trí va chạm trên mặt đường tại điểm đầu dấu vết cày xước ký hiệu số 4, thuộc khu vực giao nhau giữa đường Đ với đường Đ.
2. Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính bột đá tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 gồm: ốp nhựa phần đầu, cánh yếm, chân chống, ốp sườn, khung sườn, ốp lọc gió được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẵn (như mặt đường) tạo nên. Các dấu vết trên phù hợp với quá trình xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 đổ nghiêng trái, văng rê trên mặt đường tạo nên dấu vết cày xước ký hiệu số 3, số 4.
- Dấu vết mài trượt, bám dính chất màu đen ký hiệu số 5, số F phù hợp với quá trình xe ô tô biển kiểm soát 98C-226.17 chuyển động, phanh, lốp phanh rê trượt trên mặt đường tạo nên.
3. Chiều hướng va chạm: Tại thời điểm xảy ra va chạm xe ô tô biển kiểm soát 98C-226.17 chuyển động theo hướng thôn Y đi Quốc lộ A va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 ở tư thế đổ từ bên trái chuyển động đến (tính theo chiều chuyển động của xe ô tô biển kiểm soát 98C-226.17).
4. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học (bút lục 29-30).
Ngày 04/6/2023, Cơ quan điều tra thu giữ và trưng cầu giám định 01 đoạn video được trích xuất từ hệ thống camera an ninh ghi lại hình ảnh vụ tai nạn giao thông xảy ra ngày 02/6/2023 (bút lục 104).
Kết luận giám định số 1385/KL-KTHS ngày 28/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong 01 file video có tên “7089003076039844856.mp4" dung lượng 19,1MB; thời lượng 00 phút 57 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định (bút lục 35).
Kết luận định giá tài sản số 206/KL-HĐ ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: Tổng giá trị các bộ phận bị thiệt hại, hư hỏng cần thay thế và tiền công thay thế của xe mô tô biển số 98B1-123.86 tại thời điểm ngày 02/6/2023 là 9.567.000 đồng (bút lục 100).
Tại cơ quan điều tra, bị cáo H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 215/CT - VKS ngày 25/10/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Lý Văn Hải về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Lý Văn H trình bày: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xác định các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra. Bị cáo đã khắc phục tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại. Bị cáo xin lại bằng lái xe cho bị cáo. Bị cáo giữ nguyên lời khai đã khai tại cơ quan điều tra.
- Chị Nguyễn Thị P là bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày tại phiên tòa: Chị không yêu cầu bồi thường thêm gì, tại phiên tòa hôm nay chị vẫn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị hại. Tuy nhiên, chị không đồng ý với quan điểm là chồng chị có nồng độ cồn trong máu vì chồng chị không uống rượu, bia gì nên không thể có nồng độ cồn trong máu.
- Anh Bùi Văn L1 trình bày: Lời khai của anh tại cơ quan điều tra là hoàn toàn tự nguyện và không bị ai ép buộc gì nên anh giữ nguyên lời trình bày tại cơ quan điều tra. Đối với chiếc xe ô tô mà bị cáo lái là tài sản của anh anh đã được nhận lại tài sản. Chiếc xe ô tô không hỏng gì nên anh cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn H từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 01 (Một) năm 09 (C1) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 (Ba) năm đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Lý Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- - Về vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lý Văn H.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/NQ – UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cảm thấy rất hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin lỗi gia đình bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình Điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Lý Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình gây ra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị đơn dân sự, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 10 giờ ngày 02/6/2023, Lý Văn H điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C–226.17 đi trên đường Đ đến ngã tư đường Đ giao nhau đường Đ thuộc địa phận xã S, thành phố B do không chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ nên đã va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 do anh Nguyễn Thành C điều khiển chở chị Nguyễn Thị P ngồi phía sau đi hướng từ đường Đ 4 đến. Hậu quả làm anh C bị chết.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của Lý Văn H đã vi phạm Điều 24 Luật giao thông đường bộ và khoản 3 Điều 5 Nghị định 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Bị cáo điều khiển xe ô tô nhưng thiếu chú ý quan sát, không làm chủ tốc độ khi tham giao thông nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98B1-123.86 do anh Nguyễn Thành C điều khiển chở chị Nguyễn Thị P. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo theo tội danh và Điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
- Đại diện hợp pháp của anh C cho rằng: Anh C không uống rượu bia nên anh C không thể có nồng độ cồn trong máu như trong bản cáo trạng nêu là không đúng. Hội đồng xét xử thấy: Tại phiếu kết quả xét nghiệm của bệnh viện đa khoa tỉnh B (Bút lục 113) thể hiện: Định lượng Ethanol (cồn) cho kết quả là 78.0mg/dL nên việc xác định anh C có nồng độ cồn trong máu như bản cáo trạng thể hiện là có căn cứ.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại tới tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Về nhân thân: Ngày 04/12/2015 bị Công an huyện Y xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe người khác.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại, bị hại có một phần lỗi. Ngoài ra, bị cáo còn được đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
[7] Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[9] Về vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lý Văn H đây là giấy tờ cá nhân của bị cáo, không liên quan gì đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Lý Văn H.
[10] Những vấn đề khác có liên quan:
Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô nhãn hiệu CNHTC biển kiểm soát 98C-226.17 cho anh Bùi Văn L1; trả lại xe máy nhãn hiệu Yamaha biển kiểm soát 98B1-123.86 cho chị Nguyễn Thị P.
[11] Về án phí: Bị cáo Lý Văn H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Áp dụng các Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên quyền kháng cáo.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Luật Hình sự; khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử:
Xử phạt bị cáo Lý Văn H 01(Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 03 (Ba) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lý Văn H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo H thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về vật chứng:
- Trả lại cho bị cáo Lý Văn H 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Lý Văn H.
3. Về án phí:
Bị cáo Lý Văn H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm .
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, đại diện hợp pháp bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
5. Về hướng dẫn thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Đình Hưng |
Bản án số 209/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự)
- Số bản án: 209/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lý Văn H phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
