Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2025/DS-ST

Ngày: 04-3-2025

V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Mai Thanh Giàu
  2. Ông Trần Đăng Vạn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc B – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 1919/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 627/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 628/2025/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:

1/ Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S.

Địa chỉ trụ sở chính: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Vũ Thị Thạch T, sinh năm 1999.

Địa chỉ liên lạc: số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Quyết định số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022 của Ngân hàng TMCP S, Giấy ủy quyền số 7519/2024/UQ-TGĐ ngày 04/11/2024 của Công ty TNHH Q và Khai thác tài sản Ngân hàng S).

2/ Bị đơn: Bà Đỗ Thị Yến N, sinh năm 1990.

Địa chỉ: căn hộ A C chung cư C (chung cư S 9 cũ), đường số A, khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 02/4/2024 nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, tại bản tự khai ngày 09/01/2025, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Vũ Thị Thạch T trình bày:

Ngày 24/9/2018, bà Đỗ Thị Yến N có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của bà N, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng MC Ctless Cre Classic 512341-6384 cho bà N với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,77%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và bà N phải chịu các khoản phí theo thỏa thuận tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.

Sau khi được cấp thẻ bà N đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 121.117.745 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt cho đến ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ, bà N đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 127.196.844 đồng.

Từ ngày 22/01/2023, bà N bắt đầu thanh toán trễ hạn, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 23/4/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ MC Ctless Cre Classic 512341-6384 và chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu là 29.879.253 đồng sang nợ quá hạn (Điều 23 Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất nợ quá hạn (150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn).

Sau khi Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ, bà N có thanh toán cho Ngân hàng 3.400.000 đồng nợ gốc.

Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở yêu cầu bà N thanh toán ngay khoản nợ quá hạn đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện để bà N trả nợ, nhưng bà N vẫn chưa thanh toán các khoản nợ cho Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N phải trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S tạm tính đến hết ngày 04/3/2025 là 51.727.238 đồng trong đó nợ gốc là 26.479.253 đồng, nợ lãi quá hạn là 25.248.238 đồng.

Bà N còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 05/3/2025 cho đến khi trả hết nợ theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Ngân hàng không biết chồng bà N là ai và đang cư trú tại đâu. Mặt khác Ngân hàng cũng chỉ cấp tín dụng cho cá nhân bà N, không liên quan đến người khác nên Ngân hàng chỉ yêu cầu cá nhân bà N có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên cho Ngân hàng.

Bị đơn bà Đỗ Thị Yến N đã được Tòa án tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng, triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải, và tham gia phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ 2 nhưng bà N vẫn vắng mặt, không có lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan hệ tranh chấp: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có cơ sở.

- Về thụ lý và thẩm quyền giải quyết: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chấp hành đúng theo quy định điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Sau khi thụ lý Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã chuyển thông báo thụ lý vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đúng thời hạn theo quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thủ tục cấp tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Thời hạn chuẩn bị xét xử: Đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Quyết định đưa vụ án ra xét xử và hồ sơ: Được Tòa án gửi Viện kiểm sát nghiên cứu theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tại phiên tòa: Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án, ý kiến của các đương sự, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bà Đỗ Thị Yến N trả tổng số tiền tạm tính đến ngày 04/3/2025 là: 51.727.491 đồng, trong đó nợ gốc là 26.479.253 đồng, lãi quá hạn là 25.248.238 đồng. Lãi tiếp tục được tính đến khi bà N thanh toán xong khoản nợ.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu bà N phải trả số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S; Bà N cư trú tại căn hộ A CT1 chung cư C (chung cư S 9 cũ), đường số A, khu phố A, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ quy định khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về thủ tục tố tụng:

[2.1] Việc tham gia tố tụng của các đương sự:

Nguyên đơn tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Đương sự không yêu cầu mời người làm chứng, người tham gia tố tụng khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị đơn bà N đã được triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án cũng không nhận được bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì thể hiện việc bà N vắng mặt có lý do chính đáng do đó căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu cá nhân bà N thanh toán các khoản nợ do cá nhân bà N vay tiêu dùng cá nhân và xác định chị yêu cầu cá nhân bà N trả nợ, nguyên đơn không biết chồng bà N là ai và không yêu cầu chồng bà N cùng trả nợ.

Mặt khác, theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 885/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20/3/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì giữa bà N và chồng bà là ông Hà Văn H không có nợ chung. Do đó Tòa án không cần thiết phải triệu tập chồng bà N tham gia tố tụng trong vụ án này.

[2.2] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về yêu cầu bị đơn bà N trả số tiền nợ gốc 26.479.253 đồng:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:

Ngày 24/9/2018, bà Đỗ Thị Yến N và Ngân hàng có ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S theo đó Ngân hàng cấp tín dụng M Classic 512341-6384 cho bà N với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng là 2,77%/tháng, lãi được tính trên từng giao dịch theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau và bà N phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng.

Xét hợp đồng nêu trên các bên tự nguyện ký kết, có hình thức và nội dung phù hợp với quy định của pháp luật tại các điều 117, 118, 119, 463 của Bộ luật dân sự năm 2015, Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng, và các quy định của pháp luật về thẩm quyền ký kết nên đây là hợp đồng hợp pháp làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên theo nội dung đã thỏa thuận.

Sau khi được cấp thẻ bà N đã thực hiện các lần giao dịch với tổng số tiền là 121.117.745 đồng và đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền 127.196.844 đồng. Từ ngày 22/01/2023, bà N bắt đầu thanh toán trễ hạn, Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng bà N vẫn không có thiện chí trả nợ nên ngày 23/4/2023, Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ MC Ctless Cre Classic 512341-6384, chuyển toàn bộ dư nợ gốc còn thiếu là 29.879.253 đồng sang nợ quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Sau khi Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ, ngày 20/6/2023, bà N có thanh toán cho Ngân hàng số tiền 3.400.000 đồng nợ gốc. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N phải trả số tiền nợ gốc là 26.479.253 đồng là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên chấp nhận.

[3.2]. Về yêu cầu trả tiền lãi:

Do bà N vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bà N phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thanh toán cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tạm tính đến ngày 04/3/2025 là 25.248.238 đồng tiền lãi quá hạn là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018, Điều 22 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S: Buộc bà N phải thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến ngày 04/3/2025 tổng cộng là 51.727.491 đồng (trong đó nợ gốc là 26.479.253 đồng, nợ lãi quá hạn là 25.248.238 đồng) và thanh toán tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng kể từ ngày 05/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn bà N phải chịu án phí phải chịu án phí sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch với số tiền là: 2.586.375 đồng;

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí sơ thẩm nên được hoàn trả lại tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn cứ Điều 7, Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:

Buộc bà Đỗ Thị Yến N phải thanh toán ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ nợ gốc, lãi tính đến hết ngày 04/3/2025 tổng cộng là 51.727.491 đồng (trong đó nợ gốc là 26.479.253 đồng, nợ lãi quá hạn là 25.248.238 đồng) theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S.

Kể từ ngày 05/3/2025 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ, bà Đỗ Thị Yến N còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/7/2022 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S. Trường hợp trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2018 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP S, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng TMCP S thì lãi suất bà N phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng TMCP S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng TMCP S.

2/ Án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Đỗ Thị Yến N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự có giá ngạch là 2.586.375 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

H1 lại cho Ngân hàng S số tiền 909.582 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0044184 ngày 160/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

3/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).

4/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2025/DS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 209/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngân hàng s khởi kiện bà N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger