Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/HS-ST

Ngày       : 25/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Quang Vũ

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Huỳnh Hồng Hải

2/ Bà Phạm Thị Mai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Quế Chi - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Tố Trinh - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 240/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: HUỲNH HOÀNG T, sinh năm 2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 439/62/2/5 H, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn M và bà Võ Thị Tuyết V; vợ, con: không; Tiền án: không; Tiền sự: không; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2023. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 33 phút ngày 21/6/2023, khi làm việc tại máy soi chiếu số 2 – kho hàng Quốc nội Công ty H2 tại địa chỉ số D T, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Trần Ngọc N phát hiện kiện hàng hóa số hiệu EQ613505542VN có nghi vấn chứa cần sa nên thông báo và bàn giao kiện hàng cho Công an P1, quận T. Qua kiểm tra bên trong kiện hàng chứa 04 gói nylon màu trắng:

  • Gói 1: gồm quần áo cũ và 02 gói nylon chứa hoa lá cành khô là cần sa, khối lượng 300,43 gam;
  • Gói 2: gồm quần áo cũ và 02 gói nylon chứa hoa lá cành khô là cần sa, khối lượng 232,12 gam;
  • Gói 3: gồm quần áo cũ và 02 gói nylon chứa hoa lá cành khô là cần sa, khối lượng 238,19 gam;
  • Gói 4: gồm quần áo cũ và 02 gói nylon chứa hoa lá cành khô là cần sa, khối lượng 129,79 gam;

Qua truy xét, xác định kiện hàng trên của đối tượng Huỳnh Hoàng T gửi tại Bưu điện H3, địa chỉ E Hồ H, phường B, quận B vào ngày 20/6/2023. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của T tại Phòng số 1 nhà số D Hồ H, phường A, quận B, thu giữ 01 gói ny lông màu trắng, bên trong chứa hoa lá cành khô, là cần sa, khối lượng 11,03 gam, T cất giấu để sử dụng, qua kiểm tra, T dương tính với ma túy THC (cần sa).

Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận, ngày 19/6/2023, đối tượng tên C (không xác định lai lịch) sử dụng thuê bao số 0784267270 liên hệ với T để nhờ T gửi 06 đơn hàng chứa cành hoa lá cây khô của cây cần sa với chi phí mỗi đơn hàng là 200.000 đồng. T đồng ý và cung cấp địa chỉ nơi ở tại số D Hồ H, phường A, quận B để C gửi hàng đến. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, sau khi nhận gói hàng từ người giao hàng (không xác định lai lịch), T mang vào để trong Phòng số 1 sau đó chia thành các gói nhỏ để cùng với quần áo cũ để gửi đi theo yêu cầu của C. Đến khoảng 13 giờ 00 phút ngày 20/6/2023, T điều khiển xe máy Honda Lead biển số 50N2-335.22 đến Bưu điện H3 địa chỉ E Hồ H, phường B, quận B giao cho bà Trần Ngọc Diễm K (nhân viên bưu điện) và hẹn lát sẽ quay lại trả tiền. Do T thường xuyên gửi hàng tại bưu điện nên bà K đồng ý. Đến 15 giờ 00 phút cùng ngày, T quay lại bưu điện, thanh toán phí vận chuyển 06 đơn hàng và lấy 06 Phiếu vận đơn gửi hàng.

Bà Trần Ngọc Diễm K (nhân viên bưu điện) không biết bên trong 06 kiện hàng T gửi có chứa cần sa. Sau khi phát hiện sự việc, bà K đã thông báo Bưu điện hoàn lại 02 đơn hàng có mã vận đơn EQ613418640VN và EQ613429846VN, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã nhận bàn giao đối với 02 đơn hàng trên.

03 Đơn hàng chưa gửi đi, gồm:

  1. Duy Tùng - Bệnh viện S, phường L, thị xã S, Thành phố Hà Nội, số hiệu bưu gửi EQ613429846VN (do bưu điện bàn giao lại). Đơn hàng EQ613429846VN: chứa quần áo cũ và 02 gói nylon chứa hoa lá cành khô cây cần sa, khối lượng 299,39 gam. Xác minh kết quả: tại Bệnh viện S, phường L, thị xã S, Thành phố Hà Nội không có người tên Duy T1.
  2. Lê H – Tổ E, phường A, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, số hiệu bưu gửi EQ613418640VN (do bưu điện bàn giao lại). Đơn hàng EQ613418640VN: chứa quần áo cũ và 02 gói nylon chứa hoa lá cành khô cây cần sa, khối lượng 51,95 gam. Xác minh kết quả: Công an phường A, Thành phố T, tỉnh Tuyên Quang không thể rà soát do không đủ thông tin.
  3. L – 119 Ngõ A P, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội, số hiệu bưu gửi EQ613505542VN. Xác minh kết quả: tại A Ngõ A P, phường P, quận T, Thành phố Hà Nội không có người tên L.

Toàn bộ số cần sa được thể hiện tại Bản kết luận giám định số 6889/KL- KTHS ngày 27/6/2023; số 6784/KL-KTHS ngày 28/6/2023 và số 6904/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K1 Công an Thành phố H.

03 đơn hàng đã gửi đi, không thu hồi được. T là người trực tiếp cân và đóng gói nên xác định được khối lượng ma túy của từng đơn hàng, cụ thể:

  1. N1 – Chung cư H, phường L, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, số hiệu bưu gửi EQ613420793VN chứa hoa là cành khô cây cần sa, có khối lượng khoảng 100 gam. Xác minh kết quả: tại Chung cư H, phường L, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa không có người tên N1.
  2. N2 – A đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, số hiệu bưu gửi EQ613419486VN chứa hoa là cành khô cây cần sa, có khối lượng khoảng 50 gam. Xác minh kết quả: tại số A đường C, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ không có người tên N2.
  3. Q - G N, phường K, Thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận, số hiệu bưu gửi EQ614499928VN chứa hoa là cành khô cây cần sa, có khối lượng khoảng 200 gam. Xác minh kết quả: tại số G N, phường K, Thành phố P T, tỉnh Ninh Thuận không có người tên Quốc D.

Đối với tài khoản của T thể hiện ngày 19/6/2023 nhận 1.000.000 đồng của đối tượng C (chưa xác định lai lịch) chuyển từ từ tài khoản số 0001222020083 thuộc Ngân hàng TMCP Q. Tiến hành xác minh tại M1 thông tin liên quan chủ đăng ký tài khoản trên nhưng đến nay chưa có kết quả. Cơ quan điều tra có đề nghị Công ty M2 cung cấp thông tin chủ thuê bao, lịch sử cuộc gọi đến và cuộc gọi đi của số điện thoại 0784.267.xxx nhưng đến nay chưa nhận được kết quả.

Tại bản cáo trạng số 184/CT-VKS-TB ngày 27 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Huỳnh Hoàng T theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Huỳnh Hoàng T từ 03 năm đến 04 năm tù.
  • - Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • - Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Huỳnh Hoàng T có hành vi vận chuyển trái phép 1.612,9 gam ma túy loại hoa lá cành của cần sa nhằm mục đích thu lợi 1.200.000 đồng, đã phạm vào tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự.

Hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội. Nó không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma tuý, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc vận chuyển trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn thỏa mãn nhu cầu cá nhân, mục đích thu lợi mà các bị cáo đã bất chấp tất cả, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho các bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • + 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1391/23-Tân Bình kết luận số 4784 (G1) có các chữ ký ghi tên Phạm Huỳnh Minh T2 và Vi Thị Hồng H1; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1391/23-Tân Bình kết luận số 4784 (G2) có các chữ ký ghi tên Phạm Huỳnh Minh T2 và Vi Thị Hồng H1; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1406/23-Tân Bình kết luận số 6889 có các chữ ký ghi tên Võ La Bảo Y và Võ Huỳnh Thanh P; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1415/23-Tân Bình kết luận số 6904 có các chữ ký ghi tên Trịnh Hải T3 và Phạm Văn T4 là ma túy còn lại sau giám định, là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy.
  • + 01 (một) xe máy Honda Leads màu trắng, biển số 50N2-335.22, số máy JK12E0019818, số khung RLHJK1201NZ015238 của Huỳnh Hoàng T là phương tiện T dùng để vận chuyển cần sa, 01 điện thoại di động Iphone màu xanh có số IMEI 352051693840552 kèm sim card dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
  • + 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký, vân tay Huỳnh Hoàng T và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T, bên trong có 01 áo khoác dài tay màu đỏ và 01 quần lửng màu vàng kem là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
  • + 01 hủ nhựa màu đen không chứa gì, 01 cối xay, 01 cối xay, 01 cuộn băng keo màu trắng, 01 cuộc băng keo màu đen, 01 máy ép bằng nhiệt, 01 cân điện tử, 10 gói nylon kích thước 3x6 cm không chứ gì, 02 gói nylon kích thước 20x30 cm không chứa gì là công cụ phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
  • + 01 gói nylon có số vận đơn EQ613505542VN (T, Hà Nội) bên trong gồm: gói 1 có 06 cái đầm áo các loại, gói 2 có 02 cai đầm áo các loại, gói 3 có 03 cái đầm áo các loại, gói 4 có 04 cái đầm áo các loại; 01 gói nylon có số vận đơn EQ613429846VN (Hà Nội) bên trong có 06 cái đầm các loại,; 01 gói nylon có số vận đơn EQ613418640VN (Tuyên Quang) bên trong có 05 đầm áo các loại là công cụ phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
  • + Số tiền 1.000.000 đồng là tiền chi phí trả công mà C chuyển khoản cho bị cáo T, bị cáo T đã nộp lại nên tịch thu sung quỹ nhà nước.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 250, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Huỳnh Hoàng T;

Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Huỳnh Hoàng T phạm tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo: Huỳnh Hoàng T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2023

[2] Về xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu, sung quỹ nhà nước: 01 (một) xe máy Honda Leads màu trắng, biển số 50N2-335.22, số máy JK12E0019818, số khung RLHJK1201NZ015238 của Huỳnh Hoàng T; 01 điện thoại di động Iphone màu xanh có số IMEI 352051693840552 kèm sim card.
  • - Tịch thu và tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1391/23-Tân Bình kết luận số 4784 (G1) có các chữ ký ghi tên Phạm Huỳnh Minh T2 và Vi Thị Hồng H1; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1391/23-Tân Bình kết luận số 4784 (G2) có các chữ ký ghi tên Phạm Huỳnh Minh T2 và Vi Thị Hồng H1; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1406/23-Tân Bình kết luận số 6889 có các chữ ký ghi tên Võ La Bảo Y và Võ Huỳnh Thanh P; 01 gói niêm phong bên ngoài ghi chữ vụ 1415/23-Tân Bình kết luận số 6904 có các chữ ký ghi tên Trịnh Hải T3 và Phạm Văn T4, 01 (một) bộ trang phục T mặc khi thực hiện hành vi vận chuyển cần sa; 01 (một) gói niêm phong, bên ngoài có chữ ký, vân tay Huỳnh Hoàng T và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an quận T, bên trong có 01 áo khoác dài tay màu đỏ và 01 quần lửng màu vàng kem; 01 hủ nhựa màu đen không chứa gì, 01 cối xay, 01 cối xay, 01 cuộn băng keo màu trắng, 01 cuộc băng keo màu đen, 01 máy ép bằng nhiệt, 01 cân điện tử, 10 gói nylon kích thước 3x6 cm không chứ gì, 02 gói nylon kích thước 20x30 cm không chứa gì; 01 gói nylon có số vận đơn EQ613505542VN (T, Hà Nội) bên trong gồm: gói 1 có 06 cái đầm áo các loại, gói 2 có 02 cai đầm áo các loại, gói 3 có 03 cái đầm áo các loại, gói 4 có 04 cái đầm áo các loại; 01 gói nylon có số vận đơn EQ613429846VN (Hà Nội) bên trong có 06 cái đầm các loại,; 01 gói nylon có số vận đơn EQ613418640VN (Tuyên Quang) bên trong có 05 đầm áo các loại.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 116/BB/2024 ngày 20/6/2024 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình).

- Tịch thu, sung quỹ nhà nước số tiền 1.000.000 (Một triệu) đồng theo Giấy nộp tiền số 9570567 ngày 26/9/2023 của Ngân hàng TMCP C1.

[3] Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Quang Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vận chuyển trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 209/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vận chuyển trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger