TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 209/2024/HSPT Ngày: 13/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các thẩm phán: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo
Ông Nguyễn Trung thông
Thư ký phiên toà: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 13/11/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quang H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 296/2024/QĐXXPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024.
* Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Nguyễn Quang H, sinh ngày 27/10/2007; Trú tại: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 09/12; con ông Nguyễn Văn V và con bà Nguyễn Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
* Người bào chữa cho bị cáo:
Bà Thân Thị Thúy V1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (có mặt)
* Người đại diện hợp pháp của bị cáo:
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1984 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1986 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn X, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị hại:
Ông Nguyễn Xuân Q, sinh năm 1983 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã D, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người tham gia tố tụng khác:
Ngoài ra vụ án còn có một số người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Nguyễn Xuân Q và anh Nguyễn Văn V có mối quan hệ quen biết do cùng làm nghề mộc và buôn bán đồ gỗ. Năm 2021, anh V mua đồ gỗ của anh Q trị giá 7.000.000 đồng nhưng chưa trả tiền, anh Q có đòi nhiều lần, nhưng anh V chưa trả được. Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 16/02/2024, anh V cùng con trai là Nguyễn Quang H cùng đi đến hồ câu cá của chị Trần Minh T1 ở thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Bắc Giang để câu cá. Khoảng 10 giờ cùng ngày, anh Q cũng đến hồ câu cá của chị Trần Minh T1 để câu cá thì gặp anh V và H đang ngồi câu cá tại hồ. Do anh V nợ tiền chưa trả, nên anh Q đi đến vị trí anh V và con trai là H đang câu cá để yêu cầu Vịnh trả tiền, anh V nói chưa có tiền trả thì hai bên xảy ra cãi vã, to tiếng dẫn đến xô sát đánh nhau. Anh Q dùng chân phải đạp 01 cái vào mặt anh V, sau đó cả hai xông vào dùng chân tay không đấm, đá nhau.
Nguyễn Quang H thấy bố mình bị đánh nên xông đến dùng tay phải đấm 01 phát vào má trái anh Q. Sau đó H lấy chiếc cán ô bằng kim loại dài 94cm, một đầu được gắn 03 cây đinh nhọn hàn cố định thành một hàng ngang, mỗi cây đinh dài khoảng 10cm cầm bằng hai tay (hướng phần đầu chân ô có 03 đinh nhọn về phía anh Q) rồi đâm, chọc nhiều nhát vào mặt anh Q làm anh Q bị thương tích ở vùng mặt, chảy máu mũi. Do bị H đánh đau nên anh Q đẩy anh V ra thì bị H tiếp tục dùng chân ô vụt liên tiếp nhiều cái vào vùng đầu bên trái, bả vai trái anh Q làm cho cán ô bị cong, gập. Thấy cán ô bị cong, gập, H bẻ gãy rời chiếc cán ô ra làm hai, vứt một nửa đầu trên của cán ô xuống đất rồi cầm nửa đầu dưới của cán ô có 03 đinh nhọn tiếp tục đánh anh Q, nhưng bị anh Q giằng được. H tiếp tục chửi, thách thức sau đó nhặt 01 cành cây ở gần đó vụt 01 cái vào mông trái và 01 cái vào sườn trái của anh Q làm cành cây bị gãy. Sau đó, H đi đến vị trí thuyền câu ở gần đó nhặt 01 nửa chiếc kéo sắt dài khoảng 6cm (loại kéo cắt chỉ) có chuôi màu đỏ chạy ra phía sau lưng anh Q đâm 01 cái vào lưng và 01 cái vào bắp tay trái của anh Q làm anh Q bị thương tích chảy máu. H ném nửa chiếc kéo xuống hồ câu và nhặt nửa đầu trên của cán ô lên vụt 02 cái vào bàn tay phải đang cầm điện thoại của anh Q. Lúc này, anh V xông đến giật nửa cán ô có 03 đinh nhọn trên tay anh Q rồi dùng chiếc cán ô này vụt về phía anh Q nhưng không trúng. Do bị H đánh đau nên anh Q xin H thì H không đánh nữa và cùng với bố (V) đi về nhà.
Đối với anh Q, sau khi bị đánh được chị T1 và người dân xung quanh đến đưa đi Bệnh viện Đ khám, thương tích khi vào viện: Thương tích vùng mặt, sống mũi, kích thước vết thương sống mũi dài 2cm, xâu 0,5cm, rộng 0,3cm; vùng trán vết thương dài 2cm, sâu 0,5cm, rộng 0,3cm; vùng thái dương phải có 02 vết thương 0,5cm; vùng lưng trái có vết thương dài 2cm, sâu 1cm, rộng 0,5cm; vùng mặt sau cánh tay trái vết thương dài 1cm, sâu 0,5cm.
Ngày 16/02/2024, anh Q đã làm đơn trình báo Công an huyện Y. Cùng ngày Nguyễn Quang H đến Cơ quan điều tra Công an huyện Y đầu thú và giao nộp: 01 áo phông cộc tay màu đỏ, mặt trước in chữ "Chevrolet", mặt sau in chữ "FC-T4"; 01 cán ô bằng nhôm màu trắng, hình trụ tròn dài 94cm, đường kính 2,5cm, một đầu của cán ô gắn nhựa màu trắng, cán ô bị gãy rời thành hai nửa, một nửa dài 52cm, một nửa dài 42cm.
Đối với 01 nửa chiếc kéo cắt chỉ và chân ô gồm 03 cây đinh nhọn hàn cố định thành một hàng ngang, mỗi cây đinh dài khoảng 10cm cách nhau khoảng 03cm và 01 cành cây khô mà H sử dụng để gây thương tích cho anh Q, Cơ quan điều tra đã tổ chức truy tìm nhưng không thu hồi được.
* Tại Bản kết luận giám định số 2107 ngày 21/02/2024 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với Nguyễn Xuân Q:
- “- Thương tích vết thương trán phải kích thước nhỏ: 3%.
- - Thương tích vết thương sống mũi kích thước nhỏ + Gãy xương mũi bên trái: 10%.
- - Thương tích vết thương đã khâu thái dương trái kích thước (1x0,2)cm: 1%.
- - Thương tích vết thương đã khâu thái dương trái kích thước (1x0,2)cm: 1%.
- - Thương tích vết sước da mặt sau cánh tay trái kích thước nhỏ: 1%.
- - Thương tích vết thương vùng lưng trái kích thước nhỏ: 1%.
- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân Q tại thời điểm giám định là: 16%.
- - Cơ chế gây thương tích: Không xác định được cơ chế gây thương tích.”
* Tại Bản kết luận giám định vật gây thương tích số 2107B ngày 21/02/2024 của Trung tâm P Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
“Căn cứ kết quả giám định vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến xác định: Chiếc cán ô gửi giám định là vật gây ra được thương tích cho Nguyễn Xuân Q”.
* Tại Bản kết luận giám định bổ sung qua hồ sơ số 2107C ngày 27/02/2024 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận:
“1/2 chiếc kéo (loại kéo cắt chỉ), lưỡi kéo bằng kim loại hình tam giác màu trắng bị rỉ sét, chuôi kéo (tay cầm) bằng nhựa màu đỏ, tổng chiều dài khoảng 6 cm (Kéo đã qua sử dụng theo bản vẽ của đối tượng Nguyễn Quang H) gây được thương tích trên cơ thể của Nguyễn Xuân Q. Chân ô gồm 03 cây đinh nhọn hàn cố định thành một hàng ngang, mỗi cây đinh dài khoảng 10 cm cách nhau khoảng 03 cm (Theo bản vẽ của đối tượng Nguyễn Văn V và Nguyễn Quang H) gây được thương tích trên cơ thể của Nguyễn Xuân Q”.
* Tại Bản kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 2214 ngày 17/4/2024 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với Nguyễn Xuân Q:
- “ - Thương tích vết sẹo trán phải kích thước nhỏ: 3%.
- - Thương tích vết sẹo sống mũi kích thước nhỏ + Chụp cắt lớp vi tính hàm mặt: Hình ảnh gãy xương chính mũi không di lệch + Khám tai mũi họng: Chấn thương mũi, gãy xương chính mũi, vách ngăn mũi đã phẫu thuật – Hiện tại có ảnh hưởng một phần đến chức năng ngửi mũi phải, không ảnh hưởng tới chức năng thở: 12%.
- - Thương tích 02 vết sẹo thái dương trái + Phiếu kết quả cắt lớp vi tính sọ não: Vỡ xương thái dương trái: 10%.
- - Thương tích vết sẹo vùng lưng trái kích thước nhỏ: 1%.
- - Thương tích vết sẹo mặt sau cánh tay trái kích thước nhỏ 1%.
- - Chạm thương ngón I tay phải không còn dấu vết + Phiếu chiếu/chụp Xquang Hình ảnh vỡ đốt 2 ngón I bàn tay phải: 2%.
- - Chụp cắt lớp vi tính hàm mặt: Vỡ thành trong ổ mắt phải: 5%.
- - Phiếu kết quả cắt lớp vi tính sọ não: Vỡ thành trên xoang hàm phải: 7%.
- Kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Xuân Q tại thời điểm giám định là: 35%".
Ngày 08/5/2024, Nguyễn Xuân Q có đơn đề nghị giám định lại.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 3488 ngày 17/5/2024 của V3 Bộ C đối với Nguyễn Xuân Q:
“ *) Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể:
- - 02 sẹo vùng thái dương trái, kích thước nhỏ: mỗi sẹo 01%.
- - Sẹo vùng trán phải, kích thước nhỏ: 03%.
- - Sẹo vùng giữa sống mũi, kích thước nhỏ: 03%.
- - Sẹo vùng lưng trái, kích thước nhỏ: 01%.
- - Sẹo mặt sau 1/3 trên cánh tay trái, kích thước nhỏ: 01%.
- - Gãy đốt 2 ngón I bàn tay phải: 02%.
- - Vỡ xương mũi và vách ngăn mũi, không ảnh hưởng chức năng thở: 09%.
- - Vỡ thành trong ổ mắt phải, không ảnh hưởng thị lực: 05%.
- - Vỡ thành trên xoang hàm phải, không di lệch: 07%.
- - Vỡ xương thái dương trái dài dưới 3cm, điện não đồ không có ổ tổn thương: 08%.
- Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Xuân Q tại thời điểm giám định lại là: 34%";
- *) Cơ chế hình thành thương tích:
- - Tổn thương vùng lưng trái và mặt sau cánh tay trái của anh Nguyễn Xuân Q do vật sắc nhọn nên.
- - Các tổn thương còn lại do vật tày có cạnh gây nên”;
* Đối với thương tích của Nguyễn Văn V:
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 2222 ngày 17/4/2024 của Trung tâm Pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với Nguyễn Văn V:
- “- Chạm thương dưới mắt phải và mũi phải không còn dấu vết: 0%.
- - Thương tích vết sẹo má phải kích thước nhỏ: 3%.
- - Chạm thương mu bàn tay trái và ngón I tay trái không còn dấu vết: 0%.
- Kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn V tại thời điểm giám định là: 3%.
- Cơ chế gây thương tích: Các thương tích do vật tày gây nên”.
Ngày 26/02/2024, anh Nguyễn Xuân Q giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đoạn video do anh Q quay từ điện thoại của mình ghi lại diễn biến sự việc bị H đánh gây thương tích ngày 16/02/2024. Ngày 29/02/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định đối với 01 video do anh Q giao nộp. Tại bản kết luận giám định số 549 ngày 16/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: “Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “IMG1602202.mp4”, dung lượng 2833MB, thời lượng 04 phút 00 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định".
* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; Điều 101 Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106; Điều 292, Điều 293, Điều 331, Điều 333, Điều 420 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Xử phạt Nguyễn Quang H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt để thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Quang H và cha, mẹ của bị cáo là ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường cho ông Nguyễn Xuân Q tổng số tiền là 86.325.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- Ngày 23/8/2024 bị cáo Nguyễn Quang H và người đại diện hợp pháp cho bị cáo là bà Nguyễn Thị L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Bà bà Nguyễn Thị L đề nghị xem xét lại về bồi thường trách nhiệm dân sự vì mức bồi thường cao.
* Tại phiên toà phúc thẩm
Bà Nguyễn Thị L trình bày: bà không đề nghị xem xét lại mức bồi thường bà chỉ đề nghị cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo. Bà và ông V đã ly hôn, bị cáo đang ở với ông V nhưng không có thu nhập gì nên bà đồng ý bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo theo quy định. Số tiền 15.000.000đồng bồi thường cho bị hại bà cho bị cáo và không đề nghị gì.
- Ông Nguyễn Văn V trình bày: Việc con ông có hành vi đánh ông Q là do bị cáo sợ bố bị đánh, bị cáo nhận thức pháp luật hạn chế. Ông và bà L đã ly hôn, tòa án giao H cho ông nuôi dưỡng, ông đồng ý bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo theo quy định.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm xử như vậy là đúng người đúng tội, không sai. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, phạm tội do sợ bố bị đánh, thiếu hiểu biết. Bị cáo ăn năn hối hận về việc làm của mình, bị cáo hiện nay không có thu nhập và tài sản gì. Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
* Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bản án sơ thẩm xét xử bị cáo mức án 03 năm 06 tháng tù là đúng người, đúng tội, không oan sai. Quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo tác động mẹ bị cáo nộp 15.000.000đồng tiền bồi thường cho bị hại tại cơ quan thi hành án nên áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị HĐXX: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quang H và đại diện hợp pháp cho bị cáo H là bà Nguyễn Thị L. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 03 năm 04 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường cho ông Nguyễn Xuân Q tổng số tiền là 86.325.000đồng. Cụ thể: Ông Nguyễn Văn V bồi thường 43.325.000đồng, bà Nguyễn Thị L bồi thường 43.000.000đồng.
* Người bào chữa cho bị cáo trình bày bào chữa: Đề nghị xem xét bị cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội do thiếu hiểu biết, chưa kiểm soát được bản thân, do thiếu sự quan tâm quản lý, giáo dục của gia đình. Do sợ bố bị đánh và bị hại có hành vi vi phạm pháp luật trước, bị cáo bị kích động về tinh thần. Bị cáo đã khắc phục một phần thiệt hại, do vậy, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Bịc áo và đại diện hợp pháp cho bị cáo không có ý kiến tranh luận gì
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm.
* Bị cáo nói lời sau cùng: Đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Do mâu thuẫn với nhau trong việc nợ tiền mua bán đồ gỗ giữa ông Nguyễn Xuân Q và ông Nguyễn Văn V nên vào hồi khoảng 10 giờ ngày 16/02/2024, tại hồ câu cá của chị Trần Minh T1 ở thôn L, xã L, huyện Y, khi thấy ông Nguyễn Văn V đang cùng Nguyễn Quang H (là con trai V) đang ngồi câu cá. ông Nguyễn Xuân Q đã có hành vi chửi bới, dẫn đến xô sát, đánh nhau với ông Nguyễn Văn V. Thấy bố mình bị ông Nguyễn Xuân Q đánh, Nguyễn Quang H đã có hành vi dùng chân, tay đánh, sử dụng 01 cán ô bằng kim loại dài 94cm, một đầu được gắn 03 đinh nhọn hàn cố định thành một hàng ngang, mỗi cây đinh dài khoảng 10cm cách nhau khoảng 03cm cầm bằng hai tay hướng đầu có gắn 03 đinh nhọn về phía ông Q rồi đâm, chọc, vụt nhiều nhát vào mặt, vùng đầu ông Q. Tiếp đó H sử dụng chiếc kéo sắt dài khoảng 06cm (đã bị mất một bên lưỡi kéo) đâm vào lưng trái, bắp tay trái của ông Q, dùng 01 cành cây khô đánh vào người anh Q. Hậu quả ông Q bị H đánh gây tổn hại 34% sức khỏe. Hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Việc Nguyễn Quang H sử dụng cán ô bằng kim loại, đầu gắn đinh nhọn đâm, chọc, vụt nhiều nhát vào mặt, vùng đầu ông Nguyễn Xuân Q và việc H sử dụng kéo sắt đâm vào lưng trái, bắp tay trái ông Q đã thuộc trường hợp "Dùng hung khí nguy hiểm" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. "Hung khí nguy hiểm" là trường hợp người phạm tội dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nhằm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Do vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Quang H phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự). Bản án hình sự sơ thẩm số: 75/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang đã xét xử bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Do bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi nghĩa liên quan thấy có căn cứ xác định bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm đã xét xử nên chỉ xem xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo và Người đại diện hợp pháp cho bị cáo. Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong việc nợ tiền chưa trả giữa bố bị cáo và ông Nguyễn Xuân Q mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội rất liều lĩnh, táo bạo, sử dụng hung khí nguy hiểm đâm, chọc nhiều nhát vào cơ thể ông Q xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của ông Q dẫn đến hậu quả làm ông Q bị tổn hại 34% sức khỏe. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của bị hại, bị cáo hoàn toàn đủ năng lực và độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự nhằm răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho loại tội này. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xuất trình được biên lại nộp tiền bồi thường cho bị hại 15.000.000đồng, tuy nhiên số tiền này chỉ khắc phục 1 phần hậu quả so với số tiền bản án sơ thẩm buộc bị cáo và bố mẹ bị cáo phải bồi thường cho bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo H thời điểm phạm tội chưa đủ 18 tuổi, bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại Điều 90, Điều 101; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo H mức án 03 năm 06 tháng tù là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ mới, để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng cần xét xem giảm nhẹ một phần hình phạt nhưng không có căn cứ cho bị cáo được hưởng án treo như như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Đối với số tiền bản án sơ thẩm buộc bố mẹ bị cáo phải bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo 86.325.000 đồng. Tại phiên tòa ông V, bà L đều trình bày do ông bà đã ly hôn năm 2018 không còn chung sống với nhau, khi ly hôn tòa án giao con chung là bị cáo H cho ông V2 nuôi dưỡng, ông bà đều đồng ý số tiền bồi thường cho bị hại theo quy định pháp luật. Do ông bà đã ly hôn không còn nghĩa vụ gì chung về tài sản nên không buộc chung cả ông V và bà L phải chịu bồi thường chung số tiền bồi thường cho bị hại được. Căn cứ quy định tại Điều 74 Luật hôn nhân và gia đình và khoản 2 Điều 586 Bộ luật dân sự cần buộc ông V phải bồi thường số tiền 43.325.000đồng và bà L phải chịu 43.000.000đồng là có căn cứ đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[3]. Từ những nhận định nêu trên, HĐXX không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quang H và người đại diện hợp pháp cho bị cáo. Sửa bản sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
[4]. Về án phí: Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo, người đại điện pháp pháp cho bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Ông V bà L phải chịu án phí dân sự do phải bồi thường cho bị hại.
[5]. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Quang H và người đại diện hợp pháp cho bị cáo là bà Nguyễn Thị L. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 14/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
- Về trách nhiệm hình sự:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang H 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.
Căn cứ Điều 357; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 587; Điều 590 Bộ luật dân sự.
Buộc ông Nguyễn Văn V, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường cho ông Nguyễn Xuân Q tổng số tiền là 86.325.000 đồng (tám mươi sáu triệu, ba trăm hai mươi năm nghìn đồng). (Trong đó ông Nguyễn Văn V phải bồi thường số tiền 43.325.000đồng, bà Nguyễn Thị L phải bồi thường số tiền 43.000.000đồng)
Xác nhận bà Nguyễn Thị L đã nộp 15.000.000đồng tại biên lại thu số 0002245 ngày 22/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
Căn cứ điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Quang H và người đại diện hợp pháp cho bị cáo H không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
Ông Nguyễn Văn V phải chịu 2.166.000đồng (hai triệu, một trăm, sáu mươi sáu nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị L phải chịu 2.150.000đồng (Hai triệu, một trăm, năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 209/2024/HSPT ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 209/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quang Huy phạm tội
