Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
TỈNH THÁI BÌNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
Bản án số: 209/2024/HS-ST
Ngày 12-11-2024.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Tiến Thịnh và ông Trần Minh Hải.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Khánh Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Quốc Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 207/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXX-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 13/7/1992, tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện H, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ1 và bà Nguyễn Thị T; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 21/6/2024, tạm giam từ ngày 24/6/2024, trích xuất có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: chị Nguyễn Thị D, sinh ngày 10/8/1981, (vắng mặt);

Nơi cư trú: thôn E, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.

* Người làm chứng:

  • - Chị Đặng Thị H, sinh năm 1975, (vắng mặt);

    Nơi cư trú: thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; chị Phạm Thị Nha T1, sinh năm 1985, (vắng mặt).

    Nơi cư trú: Tổ F, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình;

  • - Anh Bùi Thanh T2, sinh năm 1975, (vắng mặt);

    Nơi cư trú: thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bị cáo Nguyễn Văn Đ sử dụng tài khoản Zalo tên “Đức N” kết bạn với tài khoản Zalo “Khánh Phương” là chị Nguyễn Thị D. Sau đó, bị cáo Đ và chị D hẹn gặp nhau tại nhà nghỉ T3, địa chỉ tại số nhà C - C đường T, tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình vào tối ngày 20/6/2024 để quan hệ tình dục, bị cáo Đ sẽ trả cho chị D số tiền 400.000 đồng. Chiều ngày 20/6/2024, bị cáo Đ đã chuẩn bị sẵn một con dao bằng kim loại (loại dao gọt hoa quả có chuôi dao màu đen), một cuộn băng dính cách điện màu đen, một đoạn dây dù màu trắng để mang theo trong người mục đích nếu chị D không đáp ứng đủ thời gian phục vụ bị cáo Đ thì bị cáo Đ sẽ sử dụng những công cụ đã chuẩn bị sẵn để uy hiếp, đe dọa tinh thần của chị D rồi cướp tài sản của chị D.

Khoảng 18 giờ ngày 20/6/2024, chị D đến nhà nghỉ T3 2 thuê phòng 307 để đợi bị cáo Đ như đã hẹn từ trước. Khoảng 21 giờ cùng ngày, bị cáo Đ đi đến nhà nghỉ T3 mang theo dao, băng dính, dây bỏ trong túi quần. Sau khi được chị Đặng Thị H là lễ tân đưa chìa khóa phòng 204, bị cáo Đ lên phòng đồng thời gọi điện thoại báo cho chị D là bị cáo đang ở phòng 204 của nhà nghỉ T3. Chị D từ phòng 307 của khách sạn đi xuống phòng 204, khi vào trong phòng chị D nói với bị cáo Đ “cho em xin tiền trước”, bị cáo Đ đưa cho chị D 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, chị D trả lại bị cáo số tiền 100.000 đồng như đã thỏa thuận từ trước. Sau khi bị cáo và chị D quan hệ tình dục xong chị D rửa chân tay, mặc quần áo rồi nói với bị cáo Đ là em đi ra ngoài có việc một lúc thì bị cáo nói “nếu đã đến đây rồi thì phải phục vụ kín thời gian nếu không thì trả lại tôi 300.000 đồng”, chị D không đồng ý nên Đ chửi “bọn lừa đảo, tao bị lừa nhiều lần rồi” nói xong bị cáo Đ dùng tay phải tát một phát vào vùng mặt của chị D, Đức mặc quần áo và kéo chị D vào nhà vệ sinh ấn đầu chị D xuống bồn cầu thì cằm của chị D va vào thành bồn cầu. Chị D nói “anh thả em ra, em xin anh” nhưng bị cáo không dừng lại, bị cáo tiếp tục kéo hai tay chị D ngược ra sau lưng rồi lấy trong túi áo đang mặc ra cuộn băng dính cách điện màu đen đã mang theo từ trước quấn băng dính chặt vào hai cổ tay của chị D lại với nhau. Lúc này, chị D đang ngồi trên bồn cầu thì bị cáo tiếp tục lấy đoạn dây dù màu trắng trong túi áo của bị cáo rồi quấn nhiều vòng vào chân chị D lại. Chị D nói “em xin anh” thì bị cáo dùng tay phải cầm con dao trong túi áo của bị cáo ra kề mũi dao sát vào vùng cổ của chị D và nói “mày có im không tao giết”, chị D không nói gì nữa và ngồi im trên bồn cầu. Bị cáo đóng cửa nhà vệ sinh lại rồi đi ra ngoài giường bị cáo nhìn thấy chiếc túi xách của chị D đặt trên giường, bị cáo liền kéo khóa túi xách ra kiểm tra thì thấy bên trong có 03 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 03 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; một số tờ tiền lẻ mệnh giá 1000 đồng được buộc bằng một chiếc dây chun; 01 chiếc điện thoại di động hiệu Iphone XS MAX, vỏ màu trắng; 01 chiếc điện thoại di động hiệu OPPO, vỏ màu đỏ, bị cáo lấy 02 chiếc điện thoại di động cho vào túi áo bò của bị cáo đang mặc và lấy số tiền 1.800.000 đồng cho vào túi quần của bị cáo đang mặc. Khoảng 22 giờ 25 phút cùng ngày, bị cáo đi xuống quầy lễ tân thanh toán tiền phòng nghỉ cho chị H số tiền 120.000 đồng rồi ra về. Lúc này, anh Bùi Thanh T2 là nhân viên bảo vệ của nhà nghỉ đang dọn dẹp trên tầng 2 gặp chị D thì chị

D nói “Anh ơi nó cướp hết điện thoại với tiền của em rồi”. Anh T2 chạy xuống tầng 1 đuổi theo bị cáo nhưng bị cáo đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy.

Ngày 21/6/2024, chị Nguyễn Thị D đến cơ quan Công an thành phố T để trình báo sự việc trên.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội Cướp tài sản của mình.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị hại chị Nguyễn Thị D trình bày phù hợp với lời khai của bị cáo Đ.

* Tại cơ quan điều tra những người làm chứng khai như sau:

  • - Chị Đặng Thị H khai: Tại khách sạn T4, khoảng 18 giờ 45 phút ngày 20/6/2024 có một người nữ giới đến thuê phòng nghỉ 307. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, bị cáo Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, sơn màu trắng – đen, biển kiểm soát 17B4 – 333.05 đến thuê phòng nghỉ, chị H yêu cầu bị cáo Đ trả số tiền 120.000 đồng còn nợ lần trước để chị H trả lại căn cước công dân và mới cho thuê phòng tiếp, bị cáo trả nợ xong thì chị H đưa chìa khóa phòng 204 cho bị cáo, bị cáo nhận chìa khóa rồi đi lên phòng. Khoảng 22 giờ 25 phút cùng ngày thì bị cáo Đ đi xuống thanh toán tiền phòng cho chị H rồi đi ra khu vực để xe, lúc này anh Bùi Thanh T2 - nhân viên bảo vệ của nhà nghỉ T3 2 chạy từ tầng 2 của nhà nghỉ xuống khu vực để xe giữ bị cáo lại nhưng bị cáo điều khiển xe bỏ chạy. Chị Nguyễn Thị D đi từ tầng 2 của nhà nghỉ xuống, hai tay chị D bị trói ngược ra phía sau người, chị H hỏi và được chị D nói sau khi chị D quan hệ tình dục với bị cáo xong, bị cáo đã dùng băng dính và dây trói tay, chân chị D lại rồi cướp tài sản của chị D. Anh T2 cởi trói cho chị D. Ngày 21/6/2024, chị H đưa chị D lên Cơ quan cảnh sát điều tra trình báo sự việc.

  • - Anh Bùi Thanh T2 khai: Khoảng 22 giờ 25 phút ngày 20/6/2024, anh T2 đang dọn vệ sinh tại tầng 2 của nhà nghỉ T3 thì có nhìn thấy bị cáo Nguyễn Văn Đ đi từ phòng 204 của nhà nghỉ xuống quầy lễ tân thanh toán tiền phòng nghỉ. Sau đó chị Nguyễn Thị D từ phòng 204 của nhà nghỉ đi ra trong tình trạng hai tay bị trói ngược ra phía sau người, chị D nói với anh T2: “Anh ơi nó cướp hết điện thoại với tiền của em rồi”, anh T2 liền chạy xuống đuổi theo bị cáo Đ nhưng bị cáo Đ đã điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, sơn màu trắng – đen, biển kiểm soát 17B4 – 333.05 bỏ chạy. Anh T2 là người cởi trói, cắt băng dính ở tay của chị D ra.

  • - Chị Phạm Thị Nha T1 khai: Ngày 20/6/2024 chị T1 dọn dẹp giúp chị Đặng Thị H tại nhà nghỉ T3, khi dọn phòng 204 của nhà nghỉ chị T1 phát hiện thấy có 01 vết máu loang trên sàn nhà vệ sinh kích thước khoảng 10 cm x 15 cm và chị H nhìn thấy 01 sợi dây màu trắng buộc vào phần ống dây của vòi sịt trong nhà vệ sinh. Chị T1 dọn, rửa nhà vệ sinh và tháo sợi dây ra khỏi phần ống dây của vòi sịt trong nhà vệ sinh, sau đó chị T1 vứt sợi dây vào thùng rác. Chị T1 đã nhặt lại sợi dây trong thùng rác để giao nộp cho cơ quan Cảnh sát điều tra.

Bản cáo trạng số 212/CT - VKSTP ngày 23/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án và giữ nguyên quan điểm truy tố. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trên cơ sở đó giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cướp tài sản”;

  2. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng và tài sản:

    • - Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chị Nguyễn Thị D các tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XSMAX, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO, màu đỏ, đã qua sử dụng và số tiền Việt Nam 1.800.000 đồng. Chị D đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác về dân sự nên chấp nhận..

    • - 01 đoạn dây xoắn bằng nhựa màu trắng (dạng dây dù); 01 túm băng dính cách điện màu đen; 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài 22 cm là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    • - 01 chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, 01 chiếc áo bò dài tay màu xanh, 01 chiếc quần soóc bằng vải màu xanh quản lý của bị cáo Đ. Xét các tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và không còn giá trị sử dụng, bị cáo không có nguyện vọng nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

    • - Đối với số tiền 400.000 đồng do chị Nguyễn Thị D bán dâm cho Nguyễn Văn Đ tại nhà nghỉ T3. Chị D đã tự nguyện nộp lại số tiền này tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự theo Biên lai thu số 0000745 ngày 14/10/2024. Xét đây là tiền do bán dâm mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

    • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30s và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, sơn màu trắng - đen, biển kiểm soát 17B4 – 333.05 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành dùng tay tát vào mặt và dùng tay đập đầu chị Nguyễn Thị D vào bồn cầu để đe dọa chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị D nhưng không gây thương tích, chị D không phải đi điều trị và không ảnh hưởng đến sức khỏe của chị D, chị D không yêu cầu giám định thương tích vì vậy không xét trong vụ án này.

- Đối với hành vi mua bán dâm giữa bị cáo Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị D tại nhà nghỉ T3 thuộc tổ E, phường T, thành phố T: Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với chị Nguyễn Thị D và bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Cướp tài sản” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luậnbị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự nên bị cáo, bị hại không khiếu nại gì, vì vậy các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Căn cứ kết tội bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường; Lời khai của người làm chứng; Kết luận định giá tài sản; các Kết luận giám định; cùng các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 20/6/2024, tại phòng 204, nhà nghỉ T3, số nhà C + 385, đường T, tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành vi dùng tay phải của bị cáo tát 01 phát vào mặt chị Nguyễn Thị D, bị cáo Nguyễn Văn Đ tiếp tục có dùng dây trói chân, tay chị Nguyễn Thị D và sử dụng hung khí nguy hiểm là dao đe dọa chị Nguyễn Thị D để lấy số tiền 1.800.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS Max trị giá 4.500.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO trị giá 300.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 6.600.000 đồng. Xét, bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, bị cáo nhận thức rõ không ai có quyền chiếm đoạt tài sản hợp pháp của người khác, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác một cách bất hợp pháp đều bị xử lý; song, bằng thủ đoạn sử dụng hung khí là 01 con dao để đe dọa chiếm đoạt của bị hại với lỗi cố ý. Xét hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự. Điều 168-Tội Cướp tài sản: 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:a) ... d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn

nguy hiểm khác; ...”. Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình của Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật. Mức hình phạt và các vấn đề khác do Kiểm sát đề nghị tại phiên toà là phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo và quy định của pháp luật. Theo đó, bị cáo phải chịu mức hình phạt về tội danh đã phạm.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Cho thấy hành vi của bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo tạo lên dư luận xấu trong quần chúng nhân dân và gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm khắc.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do đó khi lượng hình bị cáo được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, buộc bị cáo phải cách bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo cũng đủ tác dục cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền bị cáo.

[7] Về vật chứng và tài sản:

  • [7.1] Ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chị Nguyễn Thị D các tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XSMAX, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO, màu đỏ, đã qua sử dụng và số tiền Việt Nam 1.800.000 đồng. Chị D đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác về dân sự nên chấp nhận.

  • [7.2] 01 đoạn dây xoắn bằng nhựa màu trắng (dạng dây dù); 01 túm băng dính cách điện màu đen; 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài 22 cm. Xét đây là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng để phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ.

  • [7.3] 01 chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu đen, 01 chiếc áo bò dài tay màu xanh, 01 chiếc quần soóc bằng vải màu xanh. Xét các tài sản này không còn giá trị sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo không có nguyện vọng nhận lại nên cần tịch thu tiêu huỷ.

  • [7.4] Đối với số tiền 400.000 đồng do chị Nguyễn Thị D bán dâm cho Nguyễn Văn Đ tại nhà nghỉ T3. Chị D đã tự nguyện nộp lại số tiền này tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự theo Biên lai thu số 0000745 ngày 14/10/2024. Xét đây là tiền do bán dâm mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

  • [7.5] 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30s và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, sơn màu trắng – đen, biển kiểm soát 17B4 – 333.05 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tuyên trả lại cho bị cáo.

  • [7.6] Bị cáo Nguyễn Văn Đ có hành dùng tay tát vào mặt và dùng tay đập đầu chị Nguyễn Thị D vào bồn cầu để đe dọa chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị D nhưng không gây thương tích, chị D không phải đi điều trị và không ảnh hưởng đến sức khỏe của chị D, chị D không yêu cầu giám định thương tích nên không xem xét trong vụ án này.

  • [7.7] Đối với hành vi mua bán dâm giữa bị cáo Nguyễn Văn Đ và chị Nguyễn Thị D tại nhà nghỉ T3 thuộc tổ E, phường T, thành phố T: Công an thành phố T đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với chị Nguyễn Thị D và bị cáo Nguyễn Văn Đ.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Cướp tài sản”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 21/6/2024.

  3. Về vật chứng và tài sản:

    • 3.1. Chấp nhận ngày 20/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại chị Nguyễn Thị D các tài sản gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XSMAX, vỏ màu trắng, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động OPPO, màu đỏ, đã qua sử dụng và số tiền Việt Nam 1.800.000 đồng. Chị D đã nhận đủ tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác về dân sự.

    • 3.2. Tịch thu tiêu huỷ: 01 đoạn dây xoắn bằng nhựa màu trắng (dạng dây dù); 01 túm băng dính cách điện màu đen; 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài 22 cm; 01 chiếc mũ lưỡi trai bằng vải màu đen; 01 chiếc áo bò dài tay màu xanh; 01 chiếc quần soóc bằng vải màu xanh.

    • 3.3. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền 400.000 đồng do chị Nguyễn Thị D nộp tại cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự theo Biên lai thu số 0000745 ngày 14/10/2024.

    • 3.4. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A30s và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, sơn màu trắng – đen, biển kiểm soát 17B4–333.05.

    • 3.5. Vật chứng và tài sản có đặc điểm như ghi tại: Các Biên bản giao nhận tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử ngày 21/6/2024 (từ bút lục số 140 đến số 143); Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 21/6/2024 (từ bút lục số 146 đến số 148); Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, ngày 23/10/2024.

  4. Án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 12/11/2024. Bị hại vắng mặt báo cho biết có 15 ngày kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

  6. Quyền thi hành: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục THADS TP.Thai Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - VKS tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hô sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Thị Hân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về cướp tài sản

  • Số bản án: 209/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger