TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 209/2024/DS-PT Ngày: 21-9-2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hương Giang, bà Triệu Thị Luyện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 98/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 168/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 221/2024/QĐ-PT ngày 21/8/2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1947. Có mặt.
- Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- * Trợ giúp pháp lý cho nguyên đơn: Ông Ngô Văn P - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B. Có mặt.
- * Bị đơn: Ông Ngô Văn Đ, sinh năm 1966. Có mặt.
- Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- * Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trọng L, sinh năm 1970. Vắng mặt. Địa chỉ: Tòa C, phòng A Chung cư T xã, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
- Anh Nguyễn Trọng S, sinh năm 1976. Có mặt. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982. Vắng mặt. Địa chỉ: Phố T, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Nguyễn Trọng O, sinh năm 1987. Vắng mặt. Địa chỉ: E N, quận T, thành phố Hà Nội.
- Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1945. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1968. Có mặt. Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Ngô Văn M, sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Chị Phan Thị H, sinh năm 1985. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- UBND xã C, huyện L, do ông Hoàng Văn Đ1 là Chủ tịch UBND đại diện theo pháp luật. Vắng mặt.
- UBND huyện L, do ông Đào Quang D – Chuyên viên phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L đại diện theo ủy quyền. Vắng mặt.
Người làm chứng:
- Ông Ngô Đình M1, sinh năm 1947. Vắng mặt. Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Ông Ngô Văn N1, sinh năm 1959. Có mặt. Địa chỉ: Thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Ngô Văn Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng V trình bày:
Tháng 03/2003 con trai ông là Nguyễn Trọng V1 đứng tên mua lại của ông Trần Văn Đ2 (là người có địa chỉ tại xã T, huyện L) lô đất số 03 tại khu vực D (Giáp cống A), bám quốc lộ C, thuộc thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Lô đất có diện tích 85m² với tứ cận giáp ranh như sau:
- - Phía Bắc giáp mặt đường quốc lộ 31, rộng 5m;
- - Phía Nam giáp ruộng, rộng 5m;
- - Phía Đông giáp lô số 4 của ông Lưu Văn O1, dài 17m;
- - Phía Tây giáp lô số 02 của ông Ngô Văn Đ, dài 17m.
Việc chuyển nhượng lô đất trên được hai bên lập văn bản, có xác nhận của UBND xã C, có giao nhận đất tại thực địa, có địa chính xã C, đóng cọc, xác định rõ ranh giới, mốc giới.
Tháng 6/2016, anh Nguyễn Trọng V1 không may qua đời do tai nạn giao thông. Trong lúc gia đình ông đang chờ cơ quan chức năng hướng dẫn làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đã bị ông Ngô Văn Đ (hộ giáp ranh) lấn chiếm, xây dựng công trình. Sự việc này xảy ra từ cuối năm 2011 khi ông Ngô Văn Đ đổ trộm đất, lấn chiếm gần 50% diện tích lô đất của gia đình ông, sau đó dựng lên một ngôi nhà cấp 4 lợp mái tôn. Ngày 07/6/2016 ông có gặp ông Đ để nói chuyện, đồng thời đề nghị UBND xã C giải quyết. Sau buổi làm việc, UBND xã đã yêu cầu hai bên giữ nguyên hiện trạng đất, không được phép tôn lấp, chờ xác minh. Thời gian sau đó, ông Đ tiếp tục lợi dụng khi đêm tối lại đổ đất, chiếm toàn bộ diện tích lô đất số 03 của gia đình ông. Đến nay ông Đ đã chiếm hết cả lô số 03, diện tích 85m² của gia đình ông.
Nay ông Nguyễn Trọng V yêu cầu giải quyết:
- Buộc ông Ngô Văn Đ trả lại lô đất số 03 có chiều rộng 5m, chiều dài 17m, diện tích 85m² tại khu D, thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- Buộc ông Ngô Văn Đ phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên diện tích đất trên, trả lại mặt bằng.
Tại biên bản ghi lời khai, bị đơn ông Ngô Văn Đ trình bày:
Năm 2000 ông nhận chuyển nhượng hai lô đất tại khu D, thôn M, xã C, huyện L, cụ thể: Lô số 01 mua lại của ông Trần Văn Đ2, lô số 02 mua lại của ông Ngô Đình M1 (ông Đ2 và ông M1 đều có địa chỉ tại xã T, huyện L). 02 lô đất này có diện tích mỗi lô là 100m² (rộng 5m, dài 20m). Việc mua bán có lập văn bản viết tay, không chứng thực, ông Đ2 và ông M1 có giao cho ông 02 giấy giao đất ở của UBND xã C cùng các phiếu thu tiền. Sau khi nhận chuyển nhượng 02 lô đất trên, ông đổ đất lấy mặt bằng, dựng nhà tạm, trồng một số cây như Xà cừ, S1, C...
Khi ông ra ở trên 02 lô đất này thì chưa có gia đình nào ra xây dựng nhà cửa hoặc kinh doanh như hiện nay, gia đình ông sử dụng liên tục nhiều năm không có tranh chấp với ai. Hiện nay ông cho con trai là Ngô Văn M ra ở trên 02 lô đất này.
Việc ông Nguyễn Trọng V yêu cầu ông phải trả lại lô đất số 03 có diện tích 85m² và yêu cầu tháo dỡ công trình nhà tạm trên diện tích đất này thì ông không đồng ý vì ông không lấn chiếm đất của ông V. Ông xác định vẫn đang sử dụng đúng phần đất lô số 01 và lô số 02 đã mua từ năm 2000.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Trọng V, bà nhất trí với các lời khai và yêu cầu khởi kiện của ông V, ngoài ra bà không đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm anh Nguyễn Trọng L, anh Nguyễn Trọng S, chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Trọng O cùng thống nhất trình bày:
Anh, chị là con ruột của ông Nguyễn Trọng V và bà Nguyễn Thị L1. Các anh, chị đều xác định không có tiền bạc, công sức đóng góp gì vào việc nhận chuyển nhượng thửa đất mà ông V đang tranh chấp đối với ông Ngô Văn Đ trong vụ án này. Do đây là tài sản chung của gia đình nên các anh, chị nhất trí để ông V đại diện gia đình để khởi kiện đòi lại diện tích đất bị ông Ngô Văn Đ chiếm dụng, với tư cách cá nhân thì các anh, chị đều không yêu cầu, đề nghị gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T trình bày:
Bà là vợ của ông Ngô Văn Đ, bà nhất trí với các ý kiến, lời khai ông Đ đã khai, cung cấp cho Tòa án. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Trọng V thì bà không đồng ý vì vợ chồng bà vẫn đang sử dụng đúng diện tích, ranh giới lô đất đã mua (lô số 1 và lô số 2), không lấn chiếm đất của ông V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Phan Thị H trình bày:
Chị là vợ của anh Ngô Văn M, là con dâu của ông Ngô Văn Đ – bà Nguyễn Thị T. Chị kết hôn với anh M vào năm 2013 sau đó về sống cùng anh M tại thôn M, xã C. Vợ chồng chị được bố mẹ cho ra ở riêng trên thửa đất giáp quốc lộ C, thôn M, xã C. Bố mẹ chị đã làm nhà cấp 4, lợp tôn trên đất này từ trước, vợ chồng chị chỉ việc đến ở, không phải tôn tạo, xây dựng thêm công trình gì. Về quyền sở hữu, sử dụng nhà đất là của bố mẹ chồng chị, vợ chồng chị không có quyền gì về vấn đề này. Đối với tranh chấp giữa ông Nguyễn Trọng V và ông Ngô Văn Đ thì chị đề nghị Tòa án giải quyết theo ý kiến, đề nghị của bố mẹ chồng chị, ngoài ra chị không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND xã C do ông Hoàng Văn Đ1 là Chủ tịch đại diện trình bày:
Căn cứ tài liệu, giấy tờ do ông Nguyễn Trọng V và ông Ngô Văn Đ cung cấp thể hiện: Năm 1994 UBND xã C và Hợp tác xã M3 có ban hành văn bản giao đất ở cho ông Trần Văn Đ2 các lô đất số 1 và số 3; giao cho ông Ngô Đình M1 lô đất số 02 đều tại khu D (cạnh Cống ao trường), thôn M, xã C. Các lô đất này có diện tích 100m² (rộng 5m, dài 20m). Ngoài ra không có văn bản, tài liệu nào khác thể hiện việc bàn giao, xác định ranh giới, mốc giới, việc trích đo thửa đất, các hộ giáp ranh liền kề như thế nào.
Việc ông Nguyễn Trọng V, ông Ngô Văn Đ mua bán các lô đất này với ông Trần Văn Đ2, ông Ngô Đình M1 chỉ có giấy viết tay chứ không được chứng thực theo quy định của pháp luật, không có văn bản bàn giao trên thực địa. Căn cứ bản đồ quy hoạch đất dịch vụ quốc lộ C (khu D) hiện được UBND xã C lưu giữ từ năm 1994 thì các lô đất ông Nguyễn Trọng V và ông Ngô Văn Đ đang tranh chấp không thể hiện số lô, số thửa, tờ bản đồ, diện tích, vị trí, giáp ranh như thế nào. UBND xã C hiện nay không còn lưu giữ được tài liệu gì liên quan đến việc giao đất cho những người này vào năm 1994.
Do vậy việc xác định tính hợp pháp của văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn Đ2 và ông Nguyễn Trọng V1 (nay do ông Nguyễn Trọng V đại diện) lập ngày 19/9/2003 đối với lô đất số 03 tại khu D, thôn M, xã C, huyện L cũng như việc xác định quyền về tài sản của các bên đương sự thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện L do ông Đào Quang D đại diện theo ủy quyền trình bày:
Việc xác định tính hợp pháp của văn bản chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn Đ2 và ông Nguyễn Trọng V1 (nay do ông Nguyễn Trọng V đại diện) lập ngày 19/9/2003 đối với lô đất số 03 tại khu D, thôn M, xã C, huyện L cũng như việc xác định quyền về tài sản của các bên đương sự thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự. UBND huyện L không có ý kiến về vấn đề này.
Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Căn cứ bản đồ địa chính và kết quả trích đo theo hiện trạng ngày 06/11/2023 của Công ty TNHH một thành viên T1 thể hiện toàn bộ khu đất đang tranh chấp giữa ông Nguyễn Trọng V và ông Ngô Văn Đ có tổng diện tích là 258,9m2, trong đó phần đất ông V đang kiện đòi có diện tích 119,1m2 với tứ cận phía Bắc giáp Quốc lộ C rộng 5,02m; phía Nam giáp ruộng rộng 5,02m; phía Đông giáp đất ông K dài 23,89m; phía Tây giáp đất ông Đ dài 23,89m.
Toàn bộ diện tích đất do ông Ngô Văn Đ đang quản lý (trong đó bao gồm cả diện tích đang tranh chấp với ông Nguyễn Trọng V) hiện nay chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Sau khi Tòa án xét xử vụ án, xác định ai là người có quyền sử dụng đất, ranh giới, mốc giới, diện tích cụ thể của thửa đất và khi đương sự có yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì UBND huyện L sẽ căn cứ bản án của Tòa án, xem xét điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người làm chứng ông Ngô Văn N1 trình bày:
Ông là anh trai của ông Ngô Văn Đ, giữa ông và ông Nguyễn Trọng V không có quan hệ gì, không có mâu thuẫn, tranh chấp gì. Ông được biết nhiều năm trước đây (ông không nhớ rõ năm nào), ông Trần Văn Đ2 là ông bác trong gia đình có mua của Hợp tác xã M3 và UBND xã C lô đất số 03 tại khu D, thôn M, xã C, huyện L. Do ông Đ2 nhà ở xa nên có nhờ ông (là cháu) trông nom giúp thửa đất này, khi đó thửa đất còn là ruộng canh tác. Ông không rõ diện tích thửa ruộng này là bao nhiêu mét vuông. Ông xác định có ký một bản giao kèo đề ngày 29/5/2003 với nội dung ông xin cấy nốt vụ tái giá năm 2003 xong sẽ trả lại đất cho anh V1 là đúng. Việc mua bán, chuyển nhượng thửa đất này giữa anh V1 với ông Đ2, ông M1 thế nào thì ông không nắm được vì ông không tham gia.
Người làm chứng ông Ngô Đình M1 trình bày:
Ông là người được sinh ra và lớn lên tại thôn M, xã C, huyện L. Năm 1959 ông theo gia đình về cư trú tại thôn L, xã T, huyện L cho đến nay. Năm 1994 ông có được UBND xã C và HTX M3 giao (bán) cho 03 lô đất gồm các lô số 02, 06, 07 tại khu D, thôn M, xã C, huyện L. Khi xã bàn giao đất có giao cán bộ địa chính ra căng dây, đóng cọc, xác định rõ ranh giới các lô đất. Hiện trạng các lô đất này khi đó toàn bộ là ruộng cấy lúa. Do nhà ở xa không tiện canh tác nên ông có cho ông Ngô Văn N1 mượn để cấy nhờ. 03 lô đất này ông đã bán 02 lô là các lô số 02, 06, còn lại lô số 07 hiện nay ông cho con gái sử dụng.
Năm 2000 ông bán lô số 02 cho ông Ngô Văn Đ với giá 10.000.000 đồng. Diện tích thực tế được sử dụng (sau khi trừ hành lang giao thông) là 85m², dài 17m, rộng 5m. Lô đất này có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp đường Q, phía Nam giáp ruộng; phía Tây giáp lô số 01 của ông Trần Văn Đ2, phía Đông giáp lô số 03 của anh Nguyễn Trọng V1. Do anh V1 chơi với cháu của ông nên khi anh V1 mua lô đất số 03 của ông Trần Văn Đ2, anh V1 có vay của ông số tiền 400.000 đồng. Hiện anh V1 chưa trả cho ông nhưng ông cũng không đòi hỏi, trả hay không là tùy tâm của gia đình anh V1. Việc anh V1 mua bán lô đất số 03 với ông Điền thế N2 thì ông không nắm được, ông chỉ xác định lô đất số 03 mà anh V1 đã mua nằm cạnh lô số 02 mà ông bán cho ông Đ. Khi nhận bàn giao đất thì ông và anh V1 có ra thực địa để kiểm tra diện tích, căng dây, đóng cọc. Diện tích lô đất của anh V1 là 17x5m = 85m². Do điều kiện tuổi cao, đi lại xa xôi nên ông đề nghị vắng mặt tại phiên tòa, ông cam kết những lời khai đã cung cấp trên là đúng sự thật.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 27/10/2023 ông Nguyễn Trọng V có đơn đề nghị thẩm định, định giá tài sản tranh chấp. Ngày 06/11/2023 Tòa án tiến hành thẩm định, xem xét tại chỗ và định giá tài sản.
Kết quả thẩm định, xem xét tại chỗ:
- Diện tích đất tranh chấp: Đo đạc theo hiện trạng là 258,9m² (bao gồm toàn bộ các lô 01, 02, 03), tứ cận giáp ranh như sau.
- - Phía Bắc giáp đường quốc lộ 31, rộng 13,99m.
- - Phía Nam giáp ruộng, rộng 7,81m.
- - Phía Tây giáp mương nước, dài 24,05m.
- - Phía Đông giáp đất ông K (con trai ông Lưu Văn O1), dài 23,89m.
- Trên đất tranh chấp có xây dựng 02 công trình nhà ở:
- - Nhà ở 1: Nhà tạm loại B, lợp tôn chống nóng, nền láng vữa xi măng, khung sắt, xây dựng năm 2021. Diện tích 4,6 x 7m = 32,2m².
- - Nhà ở 2: Nhà cấp 4 loại I, tường xây cay (tường 10), mái lợp tôn, chống nóng bằng xốp, nền lát gạch men. Nhà xây năm 2004, diện tích 5m x 7m = 35m².
- - Mái vẩy 1: Lợp tôn chống nóng, xà gồ thép, diện tích 3m x 4,6m = 13,8m².
- - Mái vẩy 2: Lợp tôn thường, khung sắt không có tường, diện tích 3m x 5m = 15m².
Kết quả định giá tài sản:
- Trị giá đất: Tham khảo giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế tại địa phương (giao dịch thực tế giữa người dân) tại thời điểm định giá là: 20.000.000/m² (Hai mươi triệu đồng một mét vuông).
Diện tích 258,9m² x 20.000.000 đồng = 5.178.000.000 đồng.
- Tài sản trên đất:
- - Nhà tạm loại B diện tích 32,2m² + mái vẩy 13,8m²: x 1.230.000 đồng (trừ khấu hao 10 năm) = 39.606.000 đồng.
- - Nhà cấp 4 loại I diện tích 35m² + mái vẩy 15m²: x 3.400.000 đồng/m² (trừ khấu hao 15 năm) = 30.000.000 đồng.
(Căn cứ tính trị giá tài sản theo hướng dẫn tại Thông tư 23/2023/TT-BTC ngày 25/4/2023 của Bộ T2 về “Hướng dẫn chế độ quản lý, tính hao mòn, khẩu hao tài sản cố định).
Sau khi có kết quả định giá tài sản, nguyên đơn, bị đơn không có ý kiến gì về kết quả định giá, không yêu cầu định giá lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; các Điều 35, 39, 147, 157, 165, 264, 271, 273, 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 73 Luật Đất đai năm 1993; Các điều 9, 10, 49, 50, 105 Luật Đất đai năm 2003; Các điều 5, 99, 100, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 690 Bộ luật dân sự năm 1995; Điều 688 Bộ luật dân sự năm 2005; Các điều 11, 106,115 Bộ luật dân sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/ 2016 UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng V. Công nhận hộ gia đình ông Nguyễn Trọng V có quyền sử dụng thửa số 408, tờ bản đồ số 23, diện tích 85m² tại thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Thửa đất có tứ cận giáp ranh như sau:
- - Phía Bắc rộng 5m giáp quốc lộ C;
- - Phía Nam rộng 5m giáp ruộng;
- - Phía Đông dài 17m giáp đất ông Lưu Văn K;
- - Phía Tây dài 17m giáp đất ông Ngô Văn Đ.
(Có sơ đồ thửa đất kèm theo bản án)
- Buộc ông Ngô Văn Đ, anh Ngô Văn M, chị Phan Thị H là những người đang trực tiếp quản lý diện tích đất trên phải tháo dỡ rào chắn và công trình nhà cấp 4 (diện tích 35m²), mái vẩy (diện tích 15m²) để trả lại đất cho gia đình ông Nguyễn Trọng V sử dụng.
- Hộ gia đình ông Nguyễn Trọng V có quyền làm thủ tục kê khai đăng ký quyền sử dụng đất tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Trọng V phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) chi phí thẩm định, định giá tài sản và lấy kết quả trích đo. Xác nhận ông V đã nộp đủ số tiền trên.
- Về án phí: Ông Ngô Văn Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 08/5/2024 ông Ngô Văn Đ nộp đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, xét xử lại toàn bộ nội dung vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị đơn giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng V trình bày: Đề nghị giữ nguyên nội dung quyết định của bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị bị đơn trả lại nguyên trạng sử dụng đất trả lại đất cho nguyên đơn ông V. Đến thời điểm hiện tại các bên không xuất trình thêm tài liệu chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Quy trình đối với việc chuyển nhượng đất giai đoạn năm 2002 – 2004 thì chưa được chặt chẽ. Tại cấp sơ thẩm ông V có cung cấp tài liệu sơ đồ địa chính thì đến hiện tại một số hộ gia đình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lý do hiện tại lô số 01,02,03 của hộ ông V và hộ ông Đ chưa được cấp giấy là do có tranh chấp. Mặc dù về mặt hình thức của hợp đồng chuyển nhượng chưa đúng quy định, tuy nhiên trên thực tế đã có việc chuyển nhượng đất.
- Nguyên đơn ông Nguyễn Trọng V trình bày: Ông nhất trí với trình bày của luật sư P. Ông đã nhiều lần hòa giải với ông Đ nhưng không thành.
- Bị đơn ông Ngô Văn Đ trình bày: Ông không nhất trí với trình bày của luật sư nguyên đơn và ông V, giữ nguyên nội dung kháng cáo và quan điểm đã trình bày.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trọng S trình bày: Ông nhất trí với trình bày của luật sư P và ông V.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà nhất trí với trình bày của chồng bà là bị đơn ông Ngô Văn Đ.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
+ Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308, khoản 1 Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Văn Đ, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Trọng V.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Văn Đ không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt hoặc đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên là đảm bảo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét kháng cáo của bị đơn Ngô Văn Đ, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[3.1] Về nguồn gốc thửa đất ông Nguyễn Trọng V khởi kiện:
Căn cứ Biên bản giao đất ở ngày 25/8/1994 của UBND xã C (do Phó Chủ tịch UBND xã C là ông Nguyễn Văn S2 ký, đóng dấu) thể hiện: Năm 1994 UBND xã C giao cho ông Trần Văn Đ2 có địa chỉ tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang lô đất số 03 tại khu D, thôn M, xã C, huyện L (việc bàn giao đất theo sơ đồ phân lô đất dịch vụ quốc lộ 31 đo vẽ năm 1994 đang lưu giữ tại UBND xã C). Lô đất này có chiều dài 17m, chiều rộng 5m giáp mặt đường quốc lộ 31, diện tích 85m². Ngày 19/9/2003 ông Trần Văn Đ2 chuyển nhượng lô đất này cho anh Nguyễn Trọng V1. Việc mua bán, chuyển nhượng giữa các bên có lập văn bản viết tay, trong văn bản có chữ ký của ông Trần Văn Đ2, anh Nguyễn Trọng V1 và ông Ngô Đình M1 (được ông Đ2 ủy quyền bàn giao đất và làm thủ tục giấy tờ). Văn bản chuyển nhượng có xác nhận của Trưởng thôn Mẫu S3 và UBND xã C đóng dấu xác nhận về nhân thân của những người ký tên vào giấy tờ mua bán. Đến tháng 6/2006 anh V1 chết không để lại di chúc, tại thời điểm này anh V1 không có vợ, con; những thành viên khác trong hộ gia đình anh V1 đều thống nhất để ông Nguyễn Trọng V (là bố đẻ anh V1) đại diện gia đình khởi kiện đòi lại đất đang có tranh chấp.
[3.2] Về nguồn gốc đất của ông Ngô Văn Đ ( lô số 1 và lô số 2):
Lô đất số 1: Căn cứ biên bản giao đất ở ngày 18/8/1994 của UBND xã C thể hiện: UBND xã C giao cho ông Trần Văn Đ2 lô đất số 01 tại khu D, thôn M, xã C với diện tích 100m² (dài 20m, rộng 5m giáp mặt đường quốc lộ 31). Ngày 14/02/2000 ông Trần Văn Đ2 bán (chuyển nhượng) lại lô đất này cho ông Ngô Văn Đ. Hai bên có văn bản chuyển nhượng viết tay, không có xác nhận của cơ quan nhà nước.
Lô đất số 2: Căn cứ biên bản giao đất ở ngày 30/8/1994 của UBND xã C thể hiện: UBND xã C giao cho ông Ngô Văn M2 (Ngô Đình M1) thửa đất số 02 tại khu D, thôn M, xã C với diện tích 100m² (dài 20m, rộng 5m giáp mặt đường quốc lộ 31). Ngày 25/4/2000 ông Ngô Đình M1 chuyển nhượng lô đất này cho ông Ngô Văn Đ. Việc mua bán, chuyển nhượng có giấy viết tay, không có xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Như vậy, xác định ông Ngô Văn Đ nhận chuyển nhượng lô đất số 01 của ông Trần Văn Đ2 có diện tích 100m² và lô đất số 02 của ông Ngô Đình M1 có diện tích 100m² cùng vào năm 2000; tổng diện tích nhận chuyển nhượng theo giấy viết tay của ông Đ là 200m². Việc mua bán 02 lô đất này chỉ lập văn bản viết tay, không công chứng, chứng thực.
[3.3] Về tình trạng pháp lý của thửa đất tranh chấp: Ngày 10/3/2003, Đoàn Thanh tra liên ngành của Ủy ban nhân dân huyện L đã ban hành kết luận số 14/CV-TTr kết luận thanh tra cấp bán đất tại các thôn H, X, M, H và quản lý kinh tế - Tài chính XDCB ở thôn M, xã C trong đó có nội dung kiến nghị đề nghị UBND huyện ra Quyết định hủy bỏ các văn bản cấp bán đất trái thẩm quyền trong đó có thôn M, xã C (thửa đất tranh chấp nằm trong diện tích đất bán trái thẩm quyền).
Ngày 05/11/2003 Chủ tịch UBND huyện L, tỉnh Bắc Giang ban hành Quyết định số 2152/QĐ-CT về việc xử lý kết quả cuộc thanh tra cấp bán đất tại các thôn H, X, M, H và quản lý chi tiêu tài chính, XDCB ở thôn M xã C, tại Điều II của Quyết định thể hiện nội dung hủy bỏ các văn bản bán đất trái thẩm quyền trong đó thôn M có diện tích 7.062m² đất SXNN nằm trên tuyến hành lang đường Quốc lộ 31, trong đó có diện tích đất tranh chấp giữa ông Nguyễn Trọng V và ông Ngô Văn Đ. Như vậy, sau khi có khi có quyết định số 2152/QĐ-CT hủy bỏ các văn bản bán đất trái thẩm quyền những người đang sử dụng đất không ai có ý kiến khiếu nại đối với quyết định trên, hiện nay quyết định 2152/QĐ-CT của Chủ tịch UBND huyện L đang có hiệu lực pháp luật.
[3.4] Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc xác định: Tổng diện tích đất hộ ông Ngô Văn Đ đang quản lý, sử dụng là 258,9m²; trong đó có một phần diện tích 85m² hiện đang có tranh chấp với hộ ông Nguyễn Trọng V. Toàn bộ diện tích đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện L xác định theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2006 thì phần đất đang tranh chấp (lô số 1,2,3 theo biển bản giao đất năm 1994) không chia rõ số lô, số thửa, diện tích mà chỉ thể hiện hình thửa là hình tam giác. Như vậy, bản đồ đo đạc năm 2006 là bản đồ chính quy đầu tiên của Ủy ban nhân dân xã C, bản đồ phân lô quy hoạch đất dịch vụ quốc lộ C là bản đồ đo vẽ phần diện tích đất được UBND xã C lô và bán năm 1994 mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, bản đồ này không thể hiện số lô đất nào ở vị trí nào, không thể hiện rõ số lô, số thửa, tờ bản đồ, vị trí, giáp ranh và diện tích thửa đất. Bên cạnh đó, khi anh V1 mua đất không có biên bản bàn giao ranh giới, mốc giới thửa đất, không cắm mốc giới trên thực địa nên không thể xác định được ranh giới, mốc giới thửa đất của các thửa đất trên.
[3.5] Tại thời điểm lập giấy viết tay ngày 19/9/2003, ông Trần Văn Đ2 chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng đã chuyển nhượng cho gia đình anh V1, là không thực hiện đúng quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật đất đai năm 1993. Đến nay, diện tích đất này vẫn chưa được giao, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nguyên đơn chưa là người sử dụng đất theo quy định tại các Điều 1 Luật đất đai 1993, khoản 2 Điều 9 Luật đất đai năm 2003, Điều 5 Luật đất đai 2013. Mặt khác, kể từ sau thời điểm chuyển nhượng đất, ông Đ2 và anh V1 chưa tiến hành bàn giao ranh giới, mốc thửa đất trên thực địa; anh V1 cùng gia đình cũng không trực tiếp quản lý, sử dụng đất trong thời gian dài. Tại lời trình bày nguyên đơn khai phát hiện gia đình ông Đ lấn chiếm 50% diện tích đất của gia đình ông từ năm 2011, nhưng đến năm 2016 mới khiếu nại với UBND xã C, năm 2021 gia đình ông Ngô Văn Đ tiếp tục xây dựng nhà ở và cho con trai đến ở, sinh sống trên đất nhưng gia đình ông V không có ý kiến gì đến năm 2022 gia đình ông V mới tiếp tục có ý kiến đến Ủy ban nhân dân xã C.
Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào kết quả đo đạc hiện trạng đất mà ông Đ đang quản lý, sử dụng dư so với diện tích ông Đ nhận chuyển nhượng (258,9m²/200m²) để nhận định bị đơn lấn chiếm đất của nguyên đơn và buộc bị đơn phải trả diện tích 85m² đất cho nguyên đơn là chưa đủ cơ sở vững chắc bởi lẽ, đến nay không có tài liệu, chứng cứ thể hiện vị trí, mốc giới cụ thể các thửa đất đang có tranh chấp giữa ông V với ông Đ. Mặt khác, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, đánh giá Quyết định 2152/QĐ-CT ngày 05/11/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang để xem xét đến giá trị pháp lý của lô đất do Ủy ban nhân dân xã C bán trái thẩm quyền là thiếu sót, dẫn đến việc đánh giá chứng cứ chưa chính xác.
[3.6] Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy: Nội dung kháng cáo của bị đơn ông Ngô Văn Đ là có căn cứ nên được chấp nhận. Tòa án cấp phúc thẩm cần sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Trọng V là phù hợp với quy định của pháp luật cũng như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang.
[4] Về chi phí thẩm định, định giá tài sản: Ông Nguyễn Trong V2 phải chịu toàn bộ chi phí định giá tài sản và xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định tại khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Nguyễn Trọng V là người cao tuổi nên ông V được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông Ngô Văn Đ được chấp nhận, nên ông Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308; Khoản 1 Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bị đơn Ngô Văn Đ, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2024/DSST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
Áp dụng: khoản 9 Điều 26, Điều 35, 39, 147, 157, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 1993; Các điều 9, 49, 50 Luật Đất đai năm 2003; Các điều 5, 99, 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 691 Bộ luật dân sự năm 1995; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Trọng V về việc:
- - Buộc ông Ngô Văn Đ trả lại lô đất số 03 có chiều rộng 5m, chiều dài 17m, diện tích 85m² tại khu D, thôn M, xã C, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
- - Buộc ông Ngô Văn Đ phải tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên diện tích đất trên, trả lại mặt bằng.
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Trọng V phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng) chi phí thẩm định, định giá tài sản. Xác nhận ông V đã nộp đủ chi phí thẩm định và định giá tài sản.
- Về án phí:
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Trọng V.
- - Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Ngô Văn Đ không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông Ngô Văn Đ 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008306 ngày 03/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Việt Hùng |
Bản án số 209/2024/DS-PT ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 209/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp quyền sử dụng đất
