|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 209/2024/HS-ST
Ngày: 20-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Kim Huế
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Triệu Văn Giản
Bà Trần Thị Mai
- Thư ký phiên toà: Ông Chu Trần Khánh Vinh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 210/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Anh D; sinh ngày 23 tháng 3 năm 1967; nơi sinh tỉnh Nam Định; nơi thường trú: Thôn V, phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (địa chỉ cũ: Thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định); chỗ ở hiện tại: Không có chỗ ở cố định; Số căn cước công dân: [...]; giới tính nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị T (đã chết); gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ nhất; có vợ Đinh Thị M (đã ly hôn); có 03 con; tiền án: Ngày 29-9-2021, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt ngày 22-4-2023; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 26-01-1994, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng; Ngày 19-5-2000, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân; Ngày 22-4-2005, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Ngày 14-4-2008, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt phúc thẩm phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 22-11-2016, Công an thành phố N xử phạt vi phạm hành chính, hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22-6-2024, chuyển tạm giam từ ngày 01-7-2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình V và anh Đỗ Văn V1 (không triệu tập đến phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 22-6-2024, Tổ công tác Công an xã N, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực lối rẽ đường ven sông Đào cạnh đền C Bơ hướng ra đường Đ, thuộc thôn V, xã N, thành phố N phát hiện Trần Anh D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1 – 645.18 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trong chiếc khẩu trang D đang đeo 02 gói giấy bạc màu trắng, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (D khai là H mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Anh D. Ngoài ra, tạm giữ của D 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Dream màu nâu, biển kiểm soát 18B1 – 645.18, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng, đều đã cũ và 01 chiếc khẩu trang màu xám đã qua sử dụng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng thu giữ của bị cáo Trần Anh D. Tại Bản kết luận giám định số 1196/KL-KTHS ngày 27-6-2024, Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 02 gói giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine (H). Tổng khối lượng mẫu: 0,140 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Anh D khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22-6-2024, D điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1 – 645.18 từ siêu thị G, phường L, thành phố N đến khu vực một ngõ nhỏ (không nhớ số ngõ) đường ven sông Đào, xã N, thành phố N gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua 02 gói Heroine với giá 200.000 đồng, cất vào trong chiếc khẩu trang D đang đeo, rồi điều khiển xe máy đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.
Bản cáo trạng số 214/CT-VKSND-TPNĐ ngày 06-9-2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Trần Anh D tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
2
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh D đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng cho bản thân như bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Anh D tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt chính: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Anh D từ 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù.
- - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy trong 01 phong bì niêm phong số 1196/KL-KTHS và 01 khẩu trang màu xám đã qua sử dụng không có giá trị.
- Trả lại bị cáo 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1 – 645.18 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Bị cáo Trần Anh D nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh D không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
3
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Anh D trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 22-6-2024; Biên bản thu giữ vật chứng ngày 22-6-2024; Bản kết luận giám định số 1196/KL-KTHS ngày 27-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 11 giờ 40 phút ngày 22-6-2024, tại khu vực lối rẽ đường ven sông Đào cạnh đền C Bơ hướng ra đường Đ, thuộc thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định, Trần Anh D đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,140 gam Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, khối lượng Heroine bị cáo tàng trữ mục đích để sử dụng là 0,140 gam (không phẩy một trăm bốn mươi gam) nên đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Anh D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo Trần Anh D có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luận hình sự
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Anh D là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích, tuy nhiên, bị cáo lại không lấy đó làm bài học mà tiếp tục cố ý tàng trữ ma tuý để sử dụng cho bản thân nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, với mức hình phạt nghiêm khắc đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung:
4
Xét thấy bị cáo Trần Anh D không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Số ma túy thu giữ của bị cáo Trần Anh D là vật Nhà nước cấm lưu hành, 01 khẩu trang không có giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.
Chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1 – 645.18 và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng là tài sản của Trần Anh D xét thấy không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án về án phí.
[7] Về các vấn đề khác trong vụ án:
Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo Trần Anh D do tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ kết luận nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N tách ra để điều tra, xử lý sau.
[8] Về án phí:
Bị cáo Trần Anh D bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Tuyên bố bị cáo Trần Anh D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Trần Anh D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22-6-2024.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy tại phong bì niêm phong số 1196/KL-KTHS và 01 khẩu trang màu xám đã qua sử dụng.
- - Trả lại chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1 – 645.18 và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone màu vàng là tài sản của Trần Anh D nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20-9-2024 giữa Công an thành phố N và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Nam Định)
- Án phí hình sự sơ thẩm:
5
Bị cáo Trần Anh D phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Anh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo Trần Anh D có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Kim Huế |
6
CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Lương Thị Kim Huế
7
8
Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 209/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Anh Dũng phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
