|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 209/2024/HSST
Ngày: 29-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Thế Thị Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thắm.
Ông Đỗ Minh Tùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành
phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương
tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát,
tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 191/2024/TL -
HSST ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số
176/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Phạm Bá T, sinh năm 1982 tại tỉnh Bình Dương; hộ khẩu thường trú: Khu
phố B, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; nơi ở: Số A ấp B, xã L, huyện
B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: nhân viên cơ điện; trình độ văn hóa (học vấn):
12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam;
con ông Phạm Tấn G (đã chết) và bà Nguyễn Thị H (đã chết); vợ là Trần Ánh N
(đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; ngày 24/6/2022
đầu thú và bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, đến ngày 04/7/2022
được thay đổi biện pháp ngăn chặn tại ngoại cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Phạm Ngọc T1, sinh năm 1985
Hộ khẩu thường trú: Khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương
Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại trại giam A - xã P, huyện P, tỉnh Bình
Dương (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Bá T và Phạm Ngọc T1 (sinh năm 1985, hộ khẩu thường trú: khu phố
E, phường M, thành phố, B, tỉnh Bình Dương) là bạn bè quen biết nhau. Cuối
năm 2020, do cần tiền để mở tiệm cầm đồ nên T1 hỏi vay tiền của T. Cách thức T
cho T1 vay như sau: Khi T1 cần vay tiền thì gọi điện cho T thỏa thuận lãi suất và
số tiền vay. Hai bên giao nhận tiền vay trực tiếp, đồng thời T sử dụng số tài khoản
0281001467694 ngân hàng V chuyển khoản vào các số tài khoản của T1 tại ngân
hàng V1 số tài khoản 0281001911905; ngân hàng S số tài khoản 0118937454,
ngân hàng V2 số tài khoản 123398668. Khi trả tiền lãi, tiền gốc cho T thì T1
chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của mình chuyển vào tài khoản
0281001911905 ngân hàng Vietcombak của T.
Từ tháng 12/2021 đến ngày 05/6/2022, T1 đã vay tiền của T với lãi nặng 88
lần cụ thể như sau:
-
Ngày 07/3/2021, T cho T1 vay số tiền 65.000.000 đồng với lãi suất
10%/tháng, tương đương với 120%/năm. Tiền lãi từ ngày 07/3/2021 đến
05/6/2022 (456 ngày) là 98.800.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 98.800.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 65.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 16.241.095 đồng (456 ngày x 20%/365 ngày x 65.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 82.558.905 đồng (98.800.000 đồng - 16.241.095 đồng).
-
Ngày 24/10/2021, T cho T1 vay số tiền 80.000.000 đồng với lãi suất
12%/2 tuần, tương đương với 308,5%/năm. Tiền lãi từ ngày 24/10/2021 đến ngày
05/6/2022 (225 ngày) là 154.285.714 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi là 154.285.714
đồng, chưa trả tiền gốc 80.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số
tiền lãi không quá 9.863.013 đồng (225 ngày x 20%/365 ngày x 80.000.000
đồng). T đã thu lợi bất chính là 144.422.701 đồng.
-
Ngày 07/11/2021, T cho T1 vay số tiền 160.000.000 đồng với lãi suất
12%/07 ngày, tương đương 625,7%/năm. Tiền lãi từ ngày 07/11/2021 đến ngày
05/6/2022 (211 ngày) là 606.171.429 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 606.171.429
đồng, chưa trả tiền gốc 160.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số
tiền lãi không quá 19.735.342 đồng (211 ngày x 20%/365 ngày x 160.000.000
đồng). T đã thu lợi bất chính là 586.436.087 đồng( 606.171.429 đồng -
19.735.342 đồng).
-
Ngày 20/4/2022, T cho T1 vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (47 ngày) là 263.200.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 263.200.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 70.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.802.739 đồng (47 ngày x 20%/365 ngày x 70.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 261.397.261 đồng (263.200.000 đồng - 1.802.739 đồng).
-
Ngày 20/4/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
04%/ngày, tương đương với 1.460%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (47 ngày) là 94.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 94.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 50.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.287.671 đồng (47 ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 92.712.329 đồng (94.000.000 đồng - 1.287.671 đồng).
-
Ngày 20/4/2022, T cho T1 vay số tiền 385.000.000 đồng với lãi suất
khác nhau cụ thể: 33 ngày với lãi suất là 6%/ngày tương đương với 2.190%/năm;
08 ngày với lãi suất là 3%/ngày, tương đương với 1.905%/năm; 06 ngày với lãi
xuất 1,5%/ngày, tương đương với 547,5%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/4/2022 đến
05/6/2022 (47 ngày) là 883.575.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 883.575.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 385.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, tiền lãi
không quá 9.704.109 đồng (47 ngày x 20%/365 ngày x 385.000.000 đồng ). T đã
thu lợi bất chính là 873.870.891 đồng (883.575.000 đồng - 9.704.109 đồng).
-
Ngày 20/4/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày tương đương với 2.920%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (47 ngày) là 188.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 188.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 50.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.287.671 đồng (47 ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 186.712.329 đồng (188.000.000 đồng - 1.287.671 đồng).
-
Ngày 20/4/2022, T cho T1 vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (47 ngày) là 225.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 225.600.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 40.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.030.136 đồng (47 ngày x 20%/365 ngày x 40.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 224.569.864 đồng (225.600.000 đồng - 1.030.136 đồng).
-
Ngày 21/4/2022, T cho T1 vay số tiền 35.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (46 ngày) là 193.200.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 193.200.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 35.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự, số tiền lãi
không quá 882.191 đồng (46 ngày x 20%/365 ngày x 35.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 192.317.809 đồng (193.200.000 đồng - 882.191 đồng).
-
Ngày 22/4/2022, T cho T1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
2.400.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 2.400.000 đồng, đã trả tiền gốc 30.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 16.438 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 30.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 2.383.562
đồng (2.400.000 đồng - 16.438 đồng).
-
Ngày 22/4/2022, T cho T1 vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 22/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (45 ngày) là 216.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 216.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 40.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 986.301 đồng (45 ngày x 20%/365 ngày x 40.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 215.013.699 đồng (216.000.000 đồng - 986.301 đồng).
-
Ngày 25/4/2022, T cho T1 vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 25/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (42 ngày) là 201.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 201.600.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 40.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 920.547 đồng (42 ngày x 20%/365 ngày x 40.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 200.679.453 đồng (201.600.000 đồng - 920.547 đồng).
-
Ngày 25/4/2022, T cho T1 vay số tiền 78.000.000 đồng với lãi suất
03%/ngày, tương đương với 1.095%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày
2.340.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 2.340.000 đồng, đã trả tiền gốc 78.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 42.739 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 78.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 2.297.261
đồng (2.340.000 đồng - 42.739 đồng).
-
Ngày 26/4/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
16%/ngày, tương đương với 5.840%/năm. Tiền lãi từ ngày 26/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (41 ngày) là 984.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 984.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 3.369.863 đồng (41 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 980.630.137 đồng (984.000.000 đồng - 3.369.863 đồng).
-
Ngày 28/4/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 28/4/2022 đến ngày
30/4/2022 (03 ngày) là 81.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 81.000.000 đồng,
đã trả tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 246.575 đồng (03 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 80.753.425 đồng (81.000.000 đồng - 246.575 đồng).
-
Ngày 28/4/2022, T cho T1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất
06%/ngày, tương đương với 2.190%/năm vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
3.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.600.000 đồng, đã trả tiền gốc 60.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 32.876 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 60.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 3.567.124
đồng (3.600.000 đồng - 32.876 đồng).
-
Ngày 28/4/2022, T cho T1 vay số tiền 80.000.000 đồng với lãi suất
4,5%/ngày, tương đương với 1.642%/năm vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
3.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.600.000 đồng, đã trả tiền gốc 80.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 43.835 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 80.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 3.556.165
đồng (3.600.000 đồng - 43.835 đồng).
-
Ngày 29/4/2022, T cho T1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/4/2022 đến ngày
30/4/2022 (02 ngày) là 14.400.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 14.400.000 đồng,
đã trả tiền gốc 60.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 65.753 đồng (02 ngày x 20%/365 ngày x 60.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 14.334.247 đồng (14.400.000 đồng - 65.753 đồng).
-
Ngày 30/4/2022, T cho T1 vay số tiền 110.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ ngày 30/4/2022 đến ngày
05/6/2022 (37 ngày) là 569.800.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 569.800.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 110.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 2.230.136 đồng (37 ngày x 20%/365 ngày x 110.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 567.569.864 đồng (569.800.000 đồng - 2.230.136 đồng).
-
Ngày 01/5/2022, T cho T1 vay số tiền 80.000.000 đồng với lãi suất
16%/ngày, tương đương với 5.840%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
12.800.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 12.800.000 đồng, đã trả tiền gốc
80.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 43.835
đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 80.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là
12.756.165 đồng (12.800.000 đồng - 43.835 đồng).
-
Ngày 02/5/2022, T cho T1 vay số tiền 80.000.000 đồng với lãi suất
16%/ngày, tương đương với 5.840%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
12.800.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 12.800.000 đồng, đã trả tiền gốc
80.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 43.835
đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 80.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là
12.756.165 đồng (12.800.000 đồng - 43.835 đồng).
-
Ngày 03/5/2022, T cho T1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày
3.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.600.000 đồng, đã trả tiền gốc 30.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 16.438 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 30.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 3.583.562
đồng (3.600.000 đồng - 16.438 đồng).
-
Ngày 03/5/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
khác nhau, cụ thể: 24 ngày với lãi suất 11%/ngày, tương đương với 4.015%/năm;
07 ngày với lãi suất 5,5%/ngày, tương đương 286,7%/năm; 03 ngày với lãi suất
2,75%/ngày, tương đương 334,58%/năm. Tiền lãi từ ngày 03/5/2022 đến ngày
05/6/2022 là 466.225.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 466.225.000 đồng, chưa trả
tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không
quá 2.794.520 đồng (34 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng). T đã thu lợi
bất chính là 463.430.480 đồng (466.225.000 đồng - 2.794.520 đồng).
-
Ngày 03/5/2022, T cho T1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
3.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.600.000 đồng, đã trả tiền gốc 30.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 16.438 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 30.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 3.583.562
đồng (3.600.000 đồng - 16.438 đồng).
-
Ngày 04/5/2022, T cho T1 vay số tiền 75.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
10.500.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 10.500.000 đồng, đã trả tiền gốc
75.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 41.095
đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 75.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là
10.458.905 đồng (10.500.000 đồng - 41.095 đồng).
-
Ngày 04/5/2022, T cho T1 vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ ngày 04/5/2022 đến ngày
14/5/2022 (11 ngày) là 154.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 154.000.000 đồng,
đã trả tiền gốc 100.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 602.739 đồng (11 ngày x 20%/365 ngày x 100.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 153.397.261 đồng (154.000.000 đồng - 602.739 đồng).
-
Ngày 06/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
16%/ngày, tương đương với 5.840%/năm. Tiền lãi từ ngày 06/5/2022 đến ngày
09/5/2022 (04 ngày) là 32.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 32.000.000 đồng,
đã trả tiền gốc 50.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 109.589 đồng (04 ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 31.890.411 đồng (32.000.000 đồng - 109.589 đồng).
-
Ngày 09/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
khác nhau, cụ thể: 18 ngày với lãi suất 08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm;
05 ngày 2%/ngày, tương đương 730%/năm; 05 ngày là 04%/ngày, tương đương
với 1.460%/năm. Tiền lãi từ ngày 09/5/2022 đến ngày 05/6/2022 (28 ngày) là
208.800.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 208.800.000 đồng, chưa trả tiền gốc
120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
1.841.095 đồng (28 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 206.958.905 đồng (208.800.000 đồng - 1.841.095 đồng).
-
Ngày 10/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm. Tiền lãi từ ngày 10/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (27 ngày) là 259.200.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 268.800.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.775.342 đồng (27 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 267.024.658 đồng (259.200.000 đồng - 1.775.342 đồng).
-
Ngày 11/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm. Tiền lãi từ ngày 11/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (26 ngày) là 249.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 259.200.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.709.589 đồng (26 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 257.715.069 đồng (249.600.000 đồng - 1.709.589 đồng).
-
Ngày 12/5/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 12/5/2022 đến ngày
05/6/2022 là (25 ngày) là 675.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 675.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số
tiền lãi không quá 2.054.795 đồng (25 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000
đồng). T đã thu lợi bất chính là 672.945.205 đồng (675.000.000 đồng - 2.054.795
đồng).
-
Ngày 12/5/2022, T cho T1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 12/5/2022 đến ngày
05/6/2022 là (25 ngày) là 135.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 135.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc 30.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số
tiền lãi không quá 410.959 đồng (25 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 134.589.041 đồng (135.000.000 đồng - 410.959 đồng).
-
Ngày 12/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 12/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (25 ngày) là 540.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 540.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.643.836 đồng (25 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 538.356.164 đồng (540.000.000 đồng - 1.643.836 đồng).
-
Ngày 12/5/2022, T cho T1 vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 12/5/2022 đến ngày
05/6/2022 là (25 ngày) là 450.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 450.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc 100.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số
tiền lãi không quá 1.369.863 đồng (25 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000
đồng). T đã thu lợi bất chính là 448.630.137 đồng (450.000.000 đồng - 1.369.863
đồng).
-
Ngày 14/5/2022, T cho T1 vay số tiền 70.000.000 đồng với lãi suất là
16%/ngày, tương đương với 5.840%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
11.200.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 11.200.000 đồng, đã trả tiền gốc
70.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 38.356
đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 70.000.000 đồng ). T đã thu lợi bất chính là
11.161.644 đồng (11.200.000 đồng - 38.356 đồng).
-
Ngày 15/5/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 15/5/2022 đến
05/6/2022 (22 ngày) là 396.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 396.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.808.219 đồng (22 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 394.191.781 đồng (396.000.000 đồng - 1.808.219 đồng).
-
Ngày 16/5/2022, T cho T1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ 16/5/2022 đến 05/6/2022
(21 ngày) là 176.400.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 176.400.000 đồng, chưa trả
tiền gốc 60.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không
quá 690.410 đồng (21 ngày x 20%/365 ngày x 60.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 175.709.590 đồng (176.400.000 đồng - 690.410 đồng).
-
Ngày 17/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ 17/5/2022 đến 06/5/2022
(20 ngày) là 140.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 140.000.000 đồng, chưa trả
tiền gốc 50.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không
quá 547.945 đồng (20 ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 139.452.055 đồng (140.000.000 đồng - 547.945 đồng).
-
Ngày 18/5/2022, T cho T1 vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
24.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 24.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
200.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
109.589 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 200.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 23.890.411 đồng (24.000.000 đồng - 109.589 đồng).
-
Ngày 18/5/2022, T cho T1 vay số tiền 11.000.000 đồng với lãi suất
4,5%/ngày, tương đương với 1.642,5%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày
là 495.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 495.000 đồng, đã trả tiền gốc 11.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi là không quá 6.027 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 11.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 488.973 đồng
(495.000 đồng - 6.027 đồng).
-
Ngày 18/5/2022, T cho T1 vay số tiền 80.000.000 đồng lãi suất
3,4%/ngày, tương đương với 1.241%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
2.720.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 2.720.000 đồng, đã trả tiền gốc 80.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 43.835 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 80.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 2.676.165
đồng (2.720.000 đồng - 43.835 đồng).
-
Ngày 18/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
4%/ngày, tương đương với 1.460%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
2.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 2.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 50.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 27.397 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 1.972.603
đồng (2.000.000 đồng - 27.397 đồng).
-
Ngày 18/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
4,1%/ngày, tương đương với 1.496,5%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày
là 4.820.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 4.820.000 đồng, đã trả tiền gốc
120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
65.753 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 4.754.247 đồng (4.820.000 đồng - 65.753 đồng).
-
Ngày 18/5/2022, T cho T1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất
10%/ngày, tương đương với 3.650%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
6.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 6.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 60.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 32.876 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 60.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 5.967.124
đồng (6.000.000 đồng - 32.874 đồng).
-
Ngày 19/5/2022, T cho T1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất
10%/4 giờ, tương đương với 21.900%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 04 giờ là
6.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 6.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 60.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 5.479 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 60.000.000 đồng/24 giờ x 04 giờ). T đã thu lợi bất chính
là 5.994.521 đồng (6.000.000 đồng - 5.479 đồng).
-
Ngày 19/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
02%/4 giờ, tương đương với 4.380%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 04 giờ là
1.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 1.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 50.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 4.566 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng/24 giờ x 4 giờ). T đã thu lợi bất chính là
995.434 đồng (1.000.000 đồng - 4.566 đồng).
-
Ngày 19/5/2022, T cho T1 vay số tiền 270.000.000 đồng với lãi suất
15%/ngày, tương đương với 5.475%/năm. Tiền lãi từ ngày 19/5/2022 đến
05/6/2022 (18 ngày) là 729.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 729.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 270.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 2.663.013 đồng (18 ngày x 20%/365 ngày x 270.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 726.336.987 đồng (729.000.000 đồng - 2.663.013 đồng).
-
Ngày 20/5/2022, T cho T1 vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/5/2022 đến ngày
06/5/2022 (17 ngày) là 238.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 238.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 100.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 931.506 đồng (17 ngày x 20%/365 ngày x 100.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 237.068.494 đồng (238.000.000 đồng - 931.506 đồng).
-
Ngày 20/5/2022, T cho T1 vay số tiền 100.000.000 đồng với lãi suất
15%/ngày, tương đương với 5.475%/năm. Tiền lãi từ ngày 20/5/2022 đến ngày
06/5/2022 (17 ngày) là 255.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 255.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 100.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 931.506 đồng (17 ngày x 20%/365 ngày x 100.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 254.068.494 đồng (255.000.000 đồng - 931.506 đồng).
-
Ngày 20/5/2022, T cho T1 vay số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
40.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 40.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
500.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
273.972 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 500.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 39.726.028 đồng (40.000.000 đồng - 273.972 đồng).
-
Ngày 20/5/2022, T cho T1 vay số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
40.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 40.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
500.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
273.972 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 500.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 39.726.028 đồng (40.000.000 đồng - 273.972 đồng).
-
Ngày 21/5/2022, T cho T1 vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ ngày 21/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (16 ngày) là 672.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 672.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 300.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 2.630.136 đồng (16 ngày x 20%/365 ngày x 300.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 669.369.864 đồng (672.000.000 đồng - 2.630.136 đồng).
-
Ngày 21/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
14%/ngày, tương đương với 5.110%/năm. Tiền lãi từ ngày 21/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (16 ngày) là 268.800.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 268.800.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.052.054 đồng (16 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 267.747.946 đồng (268.800.000 đồng - 1.052.054 đồng).
-
Ngày 22/5/2022, T cho T1 vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất
01%/ngày tương đương với 365%/năm, thời hạn vay trả trong ngày. Tiền lãi 01
ngày là 3.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
300.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
164.383 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 300.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 2.835.617 đồng (3.000.000 đồng - 164.383 đồng).
-
Ngày 22/5/2022, T cho T1 vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất
01%/ngày tương đương với 365%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
2.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 2.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 200.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 109.589 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 200.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 1.890.411
đồng (2.000.000 đồng - 109.589 đồng).
-
Ngày 22/5/2022, T cho T1 vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 22/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (15 ngày) là 540.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 540.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 200.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.643.835 đồng (15 ngày x 20%/365 ngày x 200.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 538.356.165 đồng (540.000.000 đồng - 1.643.835 đồng).
-
Ngày 23/5/2022, T cho T1 vay số tiền 1.000.000.000 đồng với lãi suất
07%/ngày tương đương với 2.555%/năm. Tiền lãi từ ngày 23/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (14 ngày) là 980.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 980.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 1.000.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền
lãi không quá 7.671.232 đồng (14 ngày x 20%/365 ngày x 1.000.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 972.328.768 đồng (980.000.000 đồng - 7.671.232 đồng).
-
Ngày 23/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
07%/ngày, tương đương với 2.555%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
3.500.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.500.000 đồng, đã trả tiền gốc 50.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 27.397 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 3.472.603
đồng (3.500.000 đồng - 27.397 đồng).
-
Ngày 24/5/2022, T cho T1 vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất
01%/ngày, tương đương với 365%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
3.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 3.000.000 đồng, đã trả tiền gốc 300.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 164.383 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 300.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 2.835.617
đồng (3.000.000 đồng - 164.383 đồng).
-
Ngày 24/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.000.000 đồng với lãi suất
07%/ngày, tương đương với 2.555%/năm. Tiền lãi từ ngày 24/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (13 ngày) là 45.500.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 45.500.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 50.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 356.164 đồng (13 ngày x 20%/365 ngày x 50.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 45.143.836 đồng (45.500.000 đồng - 356.164 đồng).
-
Ngày 25/5/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
15%/ngày, tương đương với 5.475%/năm. Tiền lãi từ ngày 25/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (12 ngày) là 270.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 270.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 986.301 đồng (12 ngày x 20%/365 ngày x 200.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 269.013.699 đồng (270.000.000 đồng - 986.301 đồng).
-
Ngày 25/5/2022, T cho T1 vay số tiền 200.000.000 đồng với lãi suất
06%/ngày, tương đương với 2.190%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
12.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 12.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
200.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
109.589 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 200.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 11.890.411 đồng (12.000.000 đồng - 109.589 đồng).
-
Ngày 25/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
24%/ngày, tương đương với 8.760%/năm, T2 lãi từ ngày 25/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (12 ngày) là 345.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 345.600.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 789.041 đồng (12 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 344.810.959 đồng (345.600.000 đồng - 789.041 đồng).
-
Ngày 26/5/2022, T cho T1 vay số tiền 250.000.000 đồng với lãi suất
06%/ngày, tương đương với 2.190%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
15.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 15.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
250.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
136.986 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 250.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 14.863.014 đồng (15.000.000 đồng - 136.986 đồng).
-
Ngày 26/5/2022, T cho T1 vay số tiền 30.000.000 đồng với lãi suất
3.3%/ngày, tương đương với 1.204,5%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày
là 990.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 990.000 đồng, đã trả tiền gốc 30.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 16.438 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 30.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 973.562 đồng
(990.000 đồng - 16.438 đồng).
-
Ngày 26/5/2022, T cho T1 vay số tiền 499.000.000 đồng với lãi suất
01%/ngày, tương đương với 365%/năm. Tiền lãi từ ngày 26/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (11 ngày) là 988.020.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 988.020.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 499.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 3.007.671 đồng (11 ngày x 20%/365 ngày x 499.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính 985.012.329 đồng (988.020.000 đồng - 3.007.671 đồng).
-
Ngày 26/5/2022, T cho T1 vay số tiền 499.000.000 đồng với lãi suất
01%/ngày, tương đương với 365%/năm. Tiền lãi từ ngày 26/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (11 ngày) là 988.020.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 988.020.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 499.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 3.007.671 đồng (11 ngày x 20%/365 ngày x 499.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 985.012.329 đồng (988.020.000 đồng - 3.007.671 đồng).
-
Ngày 27/5/2022, T cho T1 vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất
08%/ngày, tương đương với 2.920%/năm, thời hạn vay trả trong ngày. Tiền lãi 01
ngày là 24.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 24.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
300.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
164.383 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 300.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 23.835.617 đồng (24.000.000 đồng - 164.383 đồng).
-
Ngày 27/5/2022, T cho T1 vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất
06%/ngày, tương đương với 2.190%/năm. Tiền lãi từ ngày 27/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (10 ngày) là 180.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 180.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 300.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.643.385 đồng (10 ngày x 20%/365 ngày x 300.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 178.356.615 đồng (180.000.000 đồng - 1.643.385 đồng).
-
Ngày 27/5/2022, T cho T1 vay số tiền 35.000.000 đồng với lãi suất
02%/ngày, tương đương với 730%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
700.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 700.000 đồng, đã trả tiền gốc 35.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 19.178 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 35.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 680.822 đồng
(700.000 đồng - 19.178 đồng).
-
Ngày 28/5/2022, T cho T1 vay số tiền 60.000.000 đồng với lãi suất
02%/ngày, tương đương với 730%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
1.200.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 1.200.000 đồng, đã trả tiền gốc 60.000.000
đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 32.876 đồng (01
ngày x 20%/365 ngày x 60.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 1.167.124
đồng (1.200.000 đồng - 32.876 đồng).
-
Ngày 28/5/2022, T cho T1 vay số tiền 600.000.000 đồng với lãi suất
6,5%/ngày, tương đương với 2.372,5%/năm. Tiền lãi từ ngày 28/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (09 ngày) là 351.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 351.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 600.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 2.958.904 đồng (09 ngày x 20%/365 ngày x 600.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 348.041.096 đồng (351.000.000 đồng - 2.958.904 đồng).
-
Ngày 28/5/2022, T cho T1 vay số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất
24%/ngày, tương đương với 8.760%/năm. Tiền lãi từ ngày 28/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (09 ngày) là 1.080.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 1.080.000.000
đồng, chưa trả tiền gốc 500.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số
tiền lãi không quá 2.465.753 đồng (09 ngày x 20%/365 ngày x 500.000.000
đồng). T đã thu lợi bất chính là 1.077.534.247 đồng (1.080.000.000 đồng -
2.465.753 đồng).
-
Ngày 29/5/2022, T cho T1 vay số tiền 120.000.000 đồng với lãi suất
6%/ngày, tương đương với 5.475%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (08 ngày) là 57.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 57.600.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 120.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 526.027 đồng (08 ngày x 20%/365 ngày x 120.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 57.073.973 đồng (57.600.000 đồng - 526.027 đồng).
-
Ngày 29/5/2022, T cho T1 vay số tiền 1.500.000.000 đồng với lãi suất
2,6%/ngày, tương đương với 949%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (08 ngày) là 312.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 312.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 1.500.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền
lãi không quá 6.575.342 đồng (08 ngày x 20%/365 ngày x 1.500.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 305.424.658 đồng (312.000.000 đồng - 6.575.342 đồng).
-
Ngày 29/5/2022, T cho T1 vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (08 ngày) là 216.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 216.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 150.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 657.534 đồng (08 ngày x 20%/365 ngày x 150.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 215.342.466 đồng (216.000.000 đồng - 657.534 đồng).
-
Ngày 29/5/2022, T cho T1 vay số tiền 190.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (08 ngày) là 273.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 273.600.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 190.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 832.876.71 đồng (08 ngày x 20%/365 ngày x 190.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 272.767.123 đồng (273.600.000 đồng - 832.876 đồng).
-
Ngày 29/5/2022, T cho T1 vay số tiền 50.050.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (08 ngày) là 72.072.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 72.072.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 50.050.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 219.397 đồng (08 ngày x 20%/365 ngày x 50.050.000 đồng). T thu lợi
bất chính là 71.852.603 đồng (72.072.000 đồng - 219.397 đồng).
-
Ngày 29/5/2022, T cho T1 vay số tiền 40.000.000 đồng với lãi suất
18%/ngày, tương đương với 6.570%/năm. Tiền lãi từ ngày 29/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (08 ngày) là 57.600.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 57.600.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 40.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 175.342 đồng (08 ngày x 20%/365 ngày x 40.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 57.424.658 đồng (57.600.000 đồng - 175.342 đồng).
-
Ngày 30/5/2022, T cho T1 vay số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất
4%/ngày, tương đương với 1.460%/năm, vay trả trong ngày. Tiền lãi 01 ngày là
12.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 12.000.000 đồng, đã trả tiền gốc
300.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá
164.383 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 300.000.000 đồng). T đã thu lợi bất
chính là 11.835.617 đồng (12.000.000 đồng - 164.383 đồng).
-
Ngày 30/5/2022, T cho T1 vay số tiền 350.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 30/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (07 ngày) là 294.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 294.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 350.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.342.465 đồng (07 ngày x 20%/365 ngày x 350.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 292.657.535 đồng (294.000.000 đồng - 1.342.465 đồng).
-
Ngày 30/5/2022, T cho T1 vay số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 30/5/2022 đến ngày
05/6/2022 (07 ngày) là 420.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 420.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 350.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi
không quá 1.917.808 đồng (07 ngày x 20%/365 ngày x 500.000.000 đồng). T đã
thu lợi bất chính là 418.082.192 đồng (420.000.000 đồng - 1.917.808 đồng).
-
Ngày 01/6/2022, T cho T1 vay số tiền 1.200.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ ngày 01/6/2022 đến ngày
05/6/2022 (05 ngày) là 720.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 720.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 1.200.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền
lãi không quá 3.287.671 đồng (05 ngày x 20%/365 ngày x 1.200.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 716.712.329 đồng (720.000.000 đồng - 3.287.671 đồng).
-
Ngày 02/6/2022, T cho T1 vay số tiền 1.000.000.000 đồng với lãi suất
07%/ngày, tương đương với 2.555%/năm. Tiền lãi từ ngày 02/6/2022 đến ngày
05/6/2022 (04 ngày) là 280.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 280.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 1.000.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền
lãi không quá 2.191.780 đồng (04 ngày x 20%/365 ngày x 1.000.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 277.808.220 đồng (280.000.000 đồng - 2.191.780 đồng).
-
Ngày 03/6/2022, T cho T1 vay số tiền 1.500.000.000 đồng với lãi suất
04%/ngày, tương đương với 1.460%/năm. Tiền lãi từ ngày 03/6/2022 đến ngày
05/6/2022 (03 ngày) là 180.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 180.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 1.500.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền
lãi không quá 2.465.753 đồng (03 ngày x 20%/365 ngày x 1.500.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 177.534.247 đồng (180.000.000 đồng - 2.465.753 đồng).
-
Ngày 03/6/2022, T cho T1 vay số tiền 1.000.000.000 đồng với lãi suất
10%/ngày, tương đương với 3.650%/năm. Tiền lãi từ ngày 03/6/2022 đến ngày
05/6/2022 (03 ngày) là 300.000.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 300.000.000 đồng,
chưa trả tiền gốc 1.000.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền
lãi không quá 1.643.835 đồng (03 ngày x 20%/365 ngày x 1.000.000.000 đồng).
T đã thu lợi bất chính là 298.356.165 đồng (300.000.000 đồng - 1.643.835 đồng).
-
Ngày 04/6/2022, T cho T1 vay số tiền 1.874.000.000 đồng lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi từ 04/6/2022 đến 05/6/2022
(01 ngày) là 224.880.000 đồng. Tuyến đã trả tiền lãi 224.880.000 đồng, chưa trả
tiền gốc 1.874.000.000 đồng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không
quá 1.026.849 đồng (01 ngày x 20%/365 ngày x 1.874.000.000 đồng). T đã thu
lợi bất chính là 223.853.151 đồng (224.880.000 đồng - 1.026.849 đồng).
-
Ngày 05/6/2022, T cho T1 vay số tiền 1.900.000.000 đồng với lãi suất
12%/ngày, tương đương với 4.380%/năm. Tiền lãi 01 ngày là 228.000.000 đồng.
Tuyến đã trả tiền lãi 228.000.000 đồng, chưa trả tiền gốc 1.900.000.000 đồng.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, số tiền lãi không quá 1.041.095 đồng (01 ngày
x 20%/365 ngày x 1.900.000.000 đồng). T đã thu lợi bất chính là 226.958.905
đồng (228.000.000 đồng - 1.041.095 đồng).
Như vậy, T đã cho T1 vay lãi nặng 88 khoản vay với tổng số tiền là
23.258.050.000 đồng, với các thời gian và thời hạn vay khác nhau (thời hạn tối đa
là đến ngày 05/6/2022). Tổng số tiền lãi mà T1 đã trả cho T đến ngày 05/6/2022
là 20.493.414.143 đồng, trong đó: Tiền lãi tương ứng với lãi suất cao nhất theo
quy định của Bộ luật Dân sự là 146.074.421 đồng, tiền thu lợi bất chính là
20.347.339.722 đồng. T1 đã trả lại tiền gốc đã vay cho T là 4.629.000.000 đồng
của 35/88 khoản vay, còn nợ T số tiền vay chưa trả là 18.629.050.000 đồng.
Đến ngày 06/6/2022, Tuyến hết khả năng chi trả tiền gốc và lãi cho T nên
lẩn tránh T. Ngày 24/6/2022, T1 làm đơn tố giác Phạm Bá T có hành vi cho vay
lãi nặng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B. Cùng ngày, Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an thành phố B tiến hành bắt giữ khẩn cấp Phạm Bá T,
khám xét khẩn cấp nhà của T tại số A ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương, thu
giữ:
- + Số tiền 1.750.000.000 đồng (Một tỷ bảy trăm năm mươi triệu đồng).
- + 01 (Một) xe mô tô hiệu Wave RX biển số 61G1-855.95.
- + 02 (Hai) cây vàng, có ký hiệu SJC loại 9999.
- + 01 đồng hồ hiệu Adriatica màu trắng bạc.
- + 01 (Một) đồng hồ hiệu Seiko màu trắng bạc.
- + 01 (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu trắng bạc.
- + 01 (Một) đồng hồ hiệu Longines màu trắng bạc.
- + 01 (Một) đồng hồ hiệu Tissot màu vàng bạc.
- + 01 (Một) đồng hồ hiệu Olympianus màu trắng bạc.
- + 01 (Một đồng hồ hiệu Orient màu trắng bạc;
- + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen, gắn sim số
- 0906.848.599
- + 85 (Tám mươi lăm) tờ giấy mượn tiền và giấy tổng hợp tính lãi.
- + 01 (Một) tờ đơn kiện Tuyến số tiền 3.000.000.0xxx đồng.
- + 01 (Một) giấy ủy quyền mua bán nhà;
- + 01 (Một) giấy đặt cọc mua bán đất;
- + 01 (Một) vi bằng mua bán nhà;
- + 01 (Một) bản thỏa thuận cam kết mua bán nhà;
- + 54 tờ giấy tính tiền lãi hàng ngày đối với những khoản T cho T1 vay.
Quá trình điều tra, Phạm Bá T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình. Lời khai của T phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập có được trong hồ
sơ vụ án. T khai, 02 lượng vàng SJC loại vàng 9999 bị thu giữ là tài sản của bà
Nguyễn Thị H là mẹ ruột của T; số tiền 1.750.000.000 đồng là tiền của T chuyển
nhượng quyền sử dụng đất có được.
Theo Kết luận định giá tài sản số 145/KL-HĐĐGTS ngày 08/11/2023 của
Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B, kết luận: 01 xe mô tô
hiệu Wave RX biển số 61G1-855.95 trị giá: 14.367.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu
Adriatica màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko màu trắng
bạc trị giá 2.375.000 đồng; 01 (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu trắng bạc trị giá
1.200.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Longines màu trắng bạc trị giá 6.075.000 đồng;
01 đồng hồ hiệu Tissot màu vàng bạc trị giá 6.450.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu
Olympianus màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Orient màu
trắng bạc trị giá 1.425.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 34.392.000 đồng.
Trong thời gian cho T1 vay tiền, khi T1 trả tiền lãi, T muốn rút tiền lãi để
tiêu xài, T có nhờ Lê Thị Hương L (sinh năm 1994, hộ khẩu thường trú: khu phố
C, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương) là bạn gái của T rút tiền giùm. L
không biết việc T cho T1 vay tiền với lãi suất cao nên Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố B không xử lý L là có căn cứ và đúng pháp luật.
Đối với 02 lượng vàng SJC loại vàng 9999 của bà H mẹ của T, cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà H.
*Về bị pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47, 48 Bộ luật hình sự, đề nghị Tòa
án nhân dân thành phố Bến Cát:
- - Sung ngân sách Nhà nước: 01 xe mô tô hiệu Wave RX biển số 61G1-
- 855.95 trị giá: 14.367.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Adriatica màu trắng bạc trị giá
- 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko màu trắng bạc trị giá 2.375.000 đồng; 01
- (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu trắng bạc trị giá 1.200.000 đồng; 01 đồng hồ
- hiệu Longines màu trắng bạc trị giá 6.075.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Olimpianus
- màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Orient màu trắng bạc trị
- giá 1.425.000 đồng với tổng trị giá 34.392.000 đồng và số tiền 1.750.000.000 đồng của Phạm Bá T.
- - Buộc Phạm Bá T phải nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền
- 4.629.000.000 đồng là tiền dùng để cho vay mà Phạm Ngọc T1 đã trả lại cho T;
- nộp lại số tiền 146.074.421 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất
- theo quy định của Bộ luật Dân sự mà T đã thu của T1. Trừ vào số tài sản thu giữ
- của T 1.784.392.000 đồng, còn lại 2.990.682.421 đồng buộc T nộp sung ngân
- sách Nước.
- - Buộc Phạm Ngọc T1 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền
- 18.629.050.000 đồng đồng là tiền mà Phạm Bá T cho T1 vay còn nợ chưa trả T.
- - Buộc Phạm Bá T trả lại số tiền 20.347.339.722 đồng cho Phạm Ngọc T1
- là tiền thu lợi bất chính.
Quá trình điều tra Phạm Bá T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của
mình, lời khai phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 193/CT-VKSBC ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện
Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo về tội
“Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự
năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia
phiên tòa trình bày lời luận tội có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng
đã truy tố, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s
- khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ
- sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Phạm Bá T từ 22 đến 24 tháng tù cho hưởng án treo.
- Phạt bổ sung bị cáo T từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng.
- Về biện pháp tư pháp:
- Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Sung ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Wave RX biển số 61G1-
- 855.95 trị giá: 14.367.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Adriatica màu trắng bạc trị giá
- 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko màu trắng bạc trị giá 2.375.000 đồng; 01
- (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu trắng bạc trị giá 1.200.000 đồng; 01 đồng hồ
- hiệu Longines màu trắng bạc trị giá 6.075.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Tissot màu
- vàng bạc trị giá 6.450.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Olimpianus màu trắng bạc trị
- giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Orient màu trắng bạc trị giá 1.425.000 đồng
- và số tiền 1.750.000.000 đồng của Phạm Bá T.
- - Buộc Phạm Bá T phải nộp sung vào ngân sách nhà nước số tiền
- 4.629.000.000 đồng là tiền dùng để cho vay mà Phạm Ngọc T1 đã trả lại cho T;
- nộp lại số tiền 146.074.421 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất
- theo quy định của Bộ luật Dân sự mà T đã thu của T1. Trừ vào số tài sản thu giữ
- của T 1.784.392.000 đồng, còn lại 2.990.682.421 đồng buộc T nộp sung ngân
- sách Nhà nước.
- - Buộc Phạm Ngọc T1 phải nộp vào ngân sách nhà nước số tiền
- 18.629.050.000 đồng đồng là tiền mà Phạm Bá T cho T1 vay còn nợ chưa trả T.
- - Buộc Phạm Bá T trả lại số tiền 20.347.339.722 đồng cho Phạm Ngọc T1
- là tiền thu lợi bất chính.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết
định truy tố của Viện Kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử xem xét
giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát,
tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình
điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết
định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi,
quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực
hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng
như bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại
hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Từ ngày 07/3/2021 đến ngày 05/6/2022, Phạm Bá T có hành vi cho Phạm
Ngọc T1 vay lãi nặng 88 khoản vay với tổng số tiền 23.258.050.000 đồng với lãi
suất từ 120%/năm đến 8.760%/năm với thời hạn vay khác nhau (thời hạn tối đa là
đến ngày 05/6/2022). Tổng số tiền lãi mà T1 đã trả cho T đến ngày 05/6/2022 là
20.512.614.143 đồng, trong đó: Tiền lãi tương ứng với lãi suất cao nhất theo quy
định của Bộ luật Dân sự là 146.074.421 đồng, tiền thu lợi bất chính là
20.347.339.722 đồng. T1 đã trả lại tiền gốc đã vay cho T là 4.629.000.000 đồng
của 35/88 khoản vay, còn nợ T số tiền vay chưa trả là 18.629.050.000 đồng.
Hành vi do bị cáo T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự” được quy định tại khoản 2 Điều 201 của Bộ luật Hình sự
2015, sửa đổi bổ sung 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Do đó, Cáo trạng số 193/CT-VKSBC ngày 18 tháng 7 năm 2024 của Viện
Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo theo tội
danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.
Hành vi do bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà
nước trong lĩnh vực tài chính, ảnh hưởng trật tự, trị an của xã hội. Bị cáo nhận
thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi mà bị cáo đã
lợi dụng hoàn cảnh, nhu cầu về kinh tế của người đi vay, thực hiện hành vi phạm
tội. Do đó, để có tác dụng giáo dục đối với bị cáo cũng như đấu tranh phòng
chống tội phạm chung trong xã hội, cần có mức hình phạt tương xứng với tính
chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo.
[3] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội với tình tiết
tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên.
[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng
như tại phiên toà, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi
phạm tội của mình. Bị cáo đầu thú, là lao động chính trong gia đình nuôi con nhỏ
(vợ chồng bị cáo ly hôn, bị cáo nuôi con nhỏ). Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy
định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị
cáo.
Bị cáo T có nhân thân tốt, chưa bị kết án về một tội danh nào cũng như
chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nếu không bắt
bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không
ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, xét thấy không cần
thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo giáo dục tại xã
hội cũng đủ để bị cáo trở thành người tốt, có ích cho xã hội. Do vậy, chấp nhận đề
nghị của Đại diện Viện Kiểm sát sẽ áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015
được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời
gian thử thách. Đồng thời Hội đồng xét xử sẽ phạt tiền bổ sung đối với bị cáo như
Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Buộc Bị cáo T có nghĩa vụ hoàn trả cho người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Ngọc T1 số tiền lãi thu vượt mức lãi suất
20%/năm là 20.347.339.722 đồng.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- Cần buộc Phạm Bá T phải nộp sung vào ngân sách Nhà nước gồm: Số
- tiền 4.629.000.000 đồng là tiền dùng để cho vay mà Phạm Ngọc T1 đã trả lại cho
- bị cáo T; nộp lại số tiền 146.074.421 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi suất
- cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo T đã thu của T1. Tổng cộng
- là 4.775.074.421 đồng. Số tài sản thu giữ của bị cáo gồm 01 xe mô tô hiệu Wave
- RX biển số 61G1-855.95 trị giá: 14.367.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Adriatica màu
- trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko màu trắng bạc trị giá
- 2.375.000 đồng; 01 (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu trắng bạc trị giá 1.200.000
- đồng; 01 đồng hồ hiệu Longines màu trắng bạc trị giá 6.075.000 đồng; 01 đồng
- hồ hiệu Tissot màu vàng bạc trị giá 6.450.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Olimpianus
- màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Orient màu trắng bạc trị
- giá 1.425.000 đồng và số tiền 1.750.000.000 đồng. Tổng số tài sản thu giữ của bị
- cáo là 1.784.392.000 đồng. Trừ vào số tài sản thu giữ của bị cáo T 1.784.392.000
- đồng, còn lại 2.990.682.421 đồng buộc bị cáo T nộp sung ngân sách Nước.
- - Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước các tài sản thu giữ của bị cáo T
- gồm: 01 xe mô tô hiệu Wave RX biển số 61G1-855.95 trị giá: 14.367.000 đồng;
- 01 đồng hồ hiệu Adriatica màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu
- Seiko màu trắng bạc trị giá 2.375.000 đồng; 01 (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu
- trắng bạc trị giá 1.200.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Longines màu trắng bạc trị giá
- 6.075.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Tissot màu vàng bạc trị giá 6.450.000 đồng; 01
- đồng hồ hiệu Olimpianus màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu
- Orient màu trắng bạc trị giá 1.425.000 đồng và số tiền 1.750.000.000 đồng.
- Buộc Phạm Ngọc T1 phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước số tiền
- 18.629.050.000 đồng đồng là tiền mà T1 vay chưa trả cho bị cáo T.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng khoản 2 và khoản 3 Điều 201; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản
1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Phạm Bá T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch
dân sự
Xử phạt bị cáo Phạm Bá T 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ
thẩm.
Phạt bổ sung bị cáo Phạm Bá T 60.000.000 đồng (sáu mươi triệu đồng).
Giao Phạm Bá T cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện B, tỉnh Bình Dương
giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm
nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có
thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho
hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người
đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án
mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung
năm 2017.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại Điều 68 và khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa
đổi bổ sung 2017:
Buộc Phạm Bá T có nghĩa vụ hoàn trả cho người có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan Phạm Ngọc T1 số tiền lãi thu vượt mức lãi suất 20%/năm là
20.347.339.722 đồng.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi
thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền
còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ
luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47; khoản 1 Điều 48 Bộ luật
Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, b khoản 2 Điều
106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- - Buộc bị cáo Phạm Bá T phải nộp để sung vào ngân sách Nhà nước gồm:
- Số tiền 4.629.000.000 đồng là tiền dùng để cho vay mà Phạm Ngọc T1 đã trả lại
- cho bị cáo T; nộp lại số tiền 146.074.421 đồng là tiền lãi tương ứng với mức lãi
- suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo T đã thu của T1. Tổng
- cộng là 4.775.074.421 đồng trừ vào số tài sản thu giữ của bị cáo T là
- 1.784.392.000 đồng, còn lại 2.990.682.421 đồng buộc bị cáo T nộp sung ngân
- sách Nhà nước.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước các tài sản thu giữ của bị cáo T gồm: 01
- xe mô tô hiệu Wave RX biển số 61G1-855.95 trị giá: 14.367.000 đồng; 01 đồng
- hồ hiệu Adriatica màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Seiko
- màu trắng bạc trị giá 2.375.000 đồng; 01 (Một) đồng hồ hiệu Citizen màu trắng
- bạc trị giá 1.200.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Longines màu trắng bạc trị giá
- 6.075.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu Tissot màu vàng bạc trị giá 6.450.000 đồng; 01
- đồng hồ hiệu Olympianus màu trắng bạc trị giá 1.250.000 đồng; 01 đồng hồ hiệu
- Orient màu trắng bạc trị giá 1.425.000 đồng và số tiền 1.750.000.000 đồng (tổng
- giá trị tài sản thu giữ là: 1.784.392.000 đồng).
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/8/2024 của Chi cục thi hành
- án dân sự thành phố Bến Cát và lệnh thanh toán ngày 28/6/2022 tại Ngân hàng
- N1 – Chi nhánh thành phố B).
- Buộc Phạm Ngọc T1 phải nộp để sung ngân sách Nhà nước số tiền
- 18.629.050.000 đồng là tiền Tuyến vay chưa trả cho bị cáo T.
4. Về án phí: Căn cứ các Điều 135; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường
vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 128.347.339 đồng
án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể
từ ngày tuyên án.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có
quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận Bản
án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 482 của Bộ luật
Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã
được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải
thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án,
tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7
và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm
2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật
Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Thế Thị Ngọc Anh |
Bản án số 209/2024/HSST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 209/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phạm Bá T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự"
