|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 209/2024/HS-ST Ngày: 20/08/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Tiến.
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Thị Xuân Phương
- Ông Trần Vũ Vương
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi Nga, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Hải Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2024/HSST ngày 22 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Đình A, sinh năm 1971; Đăng ký thường trú và nơi cư trú: 261 Tổ F phường H, quận H, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình C (đã chết) và bà Nguyễn Thị L (đã chết); Vợ, con: Chưa; Tiền án: Không, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tháng 4/1987, đi trường P (đã hết thời hiệu); Ngày 01/6/1990 bị Công an bắt về hành vi trộm cắp tài sản của công dân (đã hết thời hiệu); Ngày 15/5/2007 Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản (đã hết thời hiệu); Tháng 4/2009, đi cai nghiện bắt buộc 48 tháng (đã hết thời hiệu); Ngày 26/11/2020 Công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản (đã hết thời hiệu); Ngày 31/12/1991 Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Ra trại ngày 30/10/1992 (đã xóa án tích theo Nghị quyết 33/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội); Ngày 17/5/1993 Toà án quận nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 22 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân. Ra trại ngày 15/11/1994 (đã xóa án tích theo Nghị quyết 33/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội); Ngày 06/5/1995, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Ra trại ngày 12/7/1997 (đã xóa án tích theo Nghị quyết 33/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội); Năm 1998, Toà án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội trộm cắp tài sản của công dân. Ra trại ngày 30/3/2001 (đã xóa án tích theo Nghị quyết 33/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội); Ngày 28/8/2001, Toà án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 06/12/2003 (đã xóa án tích theo Nghị quyết 33/2009/QH12 ngày 19/06/2009 của Quốc hội); Ngày 27/5/2015,Toà án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 17/2/2016 (đã xóa án tích); Ngày 22/9/2017, Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử 08 tháng 23 ngày về tội trộm cắp tài sản được trả tự do tại phiên toà (đã xóa án tích). D chỉ bản số: 195 ngày 03/04/2024 của Công an quận H, thành phố Hà Nội; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/03/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại:
1. Anh Phạm Đức D1, sinh năm 2004; Đăng ký thường trú: Số B tổ G H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin vắng mặt).
2. Anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm: 2003; Đăng ký thường trú: Thôn X, xã Q, huyện S, Thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thùy L1, sinh năm 1988; Địa chỉ: Số B P phố C, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 17h00' ngày 14/03/2024, Trần Đình A mượn của ông Nguyễn Đình H, sinh năm: 1958; đăng ký thường trú: số C N, phường V, quận Đ, Thành phố Hà Nội chiếc xe máy nhãn hiệu Honda vision màu xám tím than biển kiểm soát: 29V7 - 728.64 rồi điều khiển đi đến trường Đại học B, Hà Nội để trộm cắp tài sản. Đình A điều khiển xe máy đi đến khu vực tòa nhà A trong khuôn viên trường rồi dựng xe máy dưới sân, đi bộ lên tầng 2. Tại đây, Đình A phát hiện trên mặt bàn tại hành lang có 02 chiếc balo không có người trông giữ, cách chỗ balo khoảng 3m có hai nam thanh niên đang nói chuyện. Lúc này, Đình A tiến lại gần 02 chiếc balo và lấy 01 chiếc balo màu xanh tím than của anh Phạm Đức D1; sinh năm: 2004; đăng ký thường trú: Số B tổ G H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang cất giấu vào bên trong áo mưa, rồi tẩu thoát qua lối cầu thang đã lên. Sau đó, Đình A điều khiển xe máy tới khu vực số I phố L, quận H, Thành phố Hà Nội và mở chiếc balo ra thì thấy bên trong balo có: 01 (một) chiếc ví da nhãn hiệu Tommy bên trong có số tiền 2.500.000đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng); 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe ô tô, 01 giấy phép lái xe máy, 01 thẻ sinh viên và một số giấy tờ khác; 01 bao lì xì màu đỏ kích thước 7x15cm có chữ chúc mừng năm mới có hình cây cỏ hoa lá bên trong có số tiền 3.500.000đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo Trần Đình A lấy số tiền 6.000.000đồng tiền mặt rồi đút vào túi quần đang mặc sau đó điều khiến xe về nhà. Khi đến khu vực đầu ngõ C phố L, phường B, quận H, Thành phố Hà Nội, Đình A đã vứt chiếc balo vừa trộm cắp. Khi về nhà, Đình A cho Nguyễn Thùy L1, sinh năm: 1988; Đăng ký thường trú: Số F Phố B phường V, quận Đ, Thành phố Hà Nội là bạn gái của Đình A số tiền 5.000.000đồng và giữ lại 1.000.000đồng để chi tiêu cá nhân.
Vụ thứ hai: Khoảng 18h30' ngày 16/03/2024, Trần Đình A tiếp tục một mình điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda vision màu xám biển kiểm soát: 29V7 -728.64 đến khu vực ký túc xá trường Đại học B. Khi đi đến đường vào ký túc xá, Đình A để xe máy dưới lòng đường rồi đi bộ lên vỉa hè sát hàng rào sân bóng thì thấy trên ghế đá sát vỉa hè có anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2003, trú tại: B ngõ A H, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội và anh Phạm Quốc H1, sinh năm 2003, trú tại B B, quận H, Thành phố Hà Nội đang ngồi, bên cạnh có 01 chiếc balo màu đen của anh Nguyễn Minh Đ. Lúc này, Đình A thấy hai nam thanh niên đang tập trung đánh đàn nên đã lén lút đi ra phía sau lưng, dùng tay trộm cắp chiếc balo đen rồi quay lại chỗ chiếc xe máy để tẩu thoát. Đình A điều khiển xe về khu vực số C ngách I ngõ G, quận H, Thành phố Hà Nội thì mở balo ra và thấy bên trong có: 01 chiếc laptop Macbook Pro màu xám; 01 căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe máy, 01 thẻ sinh viên của anh Nguyễn Minh Đ. Trần Đình A giữ lại chiếc máy tính Macbook và vứt balo và giấy tờ vào xe rác bên đường. Sau đó, Đình A đi đến khu vực đầu ngõ A phố T, quận H, Thành phố Hà Nội thì gặp và bán cho G (là bạn xã hội của Đình A) chiếc máy tính trộm cắp được với giá 3.000.000đồng (ba triệu đồng) rồi đi về nhà, cho Nguyễn Thùy L1 số tiền 2.500.000đồng, giữ lại 500.000đồng để chi tiêu cá nhân.
Ngày 24/3/2024, anh Phạm Đức D1 và anh Nguyễn Minh Đ đã lên Cơ quan Công an trình báo về sự việc mất trộm của bản thân. Ngày 25/3/2024, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra hành chính Trần Đình A thu giữ: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu xanh, BKS: 29V7-728.64, Số khung: RLHJK035XPY318385; Số máy: JK03E8261551; 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu xanh có biểu tượng FCB màu bạc trên mũ có quai vải màu đen; 01 mũ lưỡi trai vải rằn ri màu vàng nâu, trong mũ phía sau có mác trắng ghi kích thước mũ 58 cm; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi HyperOS (redmi Note 12) màu vàng, số Seri: 32052453. Số IMEI1: 862938062967623, số IMEI2: 862938062967631; 01 áo khoác kiểu dáng áo phao gió có họa tiết rằn ri; 01 áo mưa kích thước 1,65m x 1,4m màu xanh than; 01 quần dài chất liệu kaki màu trắng sữa; 01 đôi giày thấp cố màu trắng sữa, đế giày màu nâu.
Ngày 26/3/2024, tiến hành dẫn giải Trần Đình A chỉ vị trí vứt chiếc balo của anh Phạm Đức D1 mà Trần Đình A đã trộm cắp vào ngày 14/3/2024. Kết quả: Trần Đình A chỉ được vị trí vứt chiếc balo tại một thùng rác trên vỉa hè giáp bờ tường sân bóng Bách Khoa tiếp giáp đầu ngõ C phố L. Cơ quan Công an đã kiểm tra bên trong thùng rác và thu giữ: 01 balo bằng vải màu xanh đen kích thước khoảng 46 × 36cm bên trong có 01 ví da màu đen, kích thước 20 × 10 cm nhãn hiệu Tommy Hilfiger; 01(một) căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B1, 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS: 22B2-845.16, 01 thẻ sinh viên, 01 thẻ ngân hàng V số 5594639102480056, 01 thẻ ngân hàng V1 số 9704368621170091026 (tất cả giấy tờ đều mang tên Phạm Đức D1). Tại cơ quan công an, Trần Đình A khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với lời khai của bị hại Phạm Đức D1, Nguyễn Minh Đ và lời khai của những người liên quan.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS đề ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng hình sự quận H, Hà Nội kết luận: “ Đối với tài sản thu giữ được: 01 chiếc balo bằng vải màu xanh - đen, kích thước khoảng 40x25 cm, không có nhãn hiệu, bị mất trộm ngày 14/3/2024 đã qua sử dụng. Giá trị tài sản: 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng); 01 chiếc ví da màu đen, dạng gập, kích thước khi mở ví khoảng 20x10cm, nhãn hiệu Tommy Hifiger, bị mất trộm ngày 14/3/2024 đã qua sử dụng. Giá trị tài sản: 800.000đồng (tám trăm nghìn đồng). Đối với tài sản chưa thu giữ được: 01 chiếc balo bằng vải màu xanh, kích thước khoảng 30x40cm, có logo (S), bị mất trộm ngày 16/3/2024, đã qua sử dụng. Do tài sản chưa thu giữ được, không có hóa đơn chứng từ hay tài liệu có liên quan đến nguyên giá của tài sản nên Hội đồng chưa đủ cơ sở để tiến hành định giá; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Macbook Pro, màu xám, màn hình kích thước 13 inch, số S: CO2DV17GQ05D, bị mất trộm ngày 16/3/2024, đã qua sử dụng. Thời điểm định giả tháng 3/2024. Giá trị tài sản là 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng).”
Tổng giá trị tài sản mà Trần Đình A trộm cắp của anh Phạm Đức D1 và anh Nguyễn Minh Đ số tiền là 22.000.000đồng.
Đối với chị Nguyễn Thùy L1 là người được Trần Đình A cho 7.000.000đồng (bảy triệu đồng), L1 đã chi tiêu hết 4.000.000đồng (bốn triệu đồng). Số tiền 3.000.000đồng còn lại L1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. L1 khai không biết số tiền Trần Đình A cho mình là do trộm cắp mà có vì vậy không có căn cứ xử lý hình sự đối với Nguyễn Thùy L1.
Đối với đối tượng G đã mua lại chiếc Macbook của Trần Đình A với giá 3.000.000đồng. Tiến hành dẫn giải Trần Đình A chỉ được vị trí đã bán cho G chiếc laptop vào ngày 16/3/2024 tại khu vực đầu ngõ A phố T, quận H, Thành phố Hà Nội. Trần Đình A không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, không có thông tin liên lạc của G vì vậy không có căn cứ để xác minh, xử lý đối với đối tượng G.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 29V7-728.64, quá trình điều tra xác định, chiếc xe trên có số khung, số máy nguyên thủy, thuộc sở hữu hợp pháp của ông Nguyễn Đình H, sinh năm 1958, trú tại: số B phố C, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội. Ông H khai nhận: Chiều ngày 14/3/2024 và ngày 16/3/2024, ông H cho Trần Đình A mượn chiếc xe máy nêu trên, ông không biết việc Đình A sử dụng chiếc xe máy này làm phương tiện để đi trộm cắp tài sản.
Ngày 23/6/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng: Trao trả chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision màu xanh đen, biển kiểm soát: 29V7728.64; số khung: RLHJK035035XPY318385, số máy: JK03E8261551 cho ông Nguyễn Đình H. Trao trả 01 balo bằng vải màu xanh kích thước 46x36 cm; 01 ví da màu đen, kích thước 20x10 cm nhãn hiệu Tommy Hilfiger; 01 (một) căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng A1, 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B1, 01 đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner BKS: 22B2-845.16, 01 thẻ sinh viên, 01 thẻ ngân hàng V số 5594639102480056, 01 thẻ ngân hàng V1 số 9704368621170091026 cho anh Phạm Đức D1.
Về vấn đề dân sự: Anh Phạm Đức D1 yêu cầu bị cáo Trần Đình A bồi thường số tiền 6.000.000đồng mà Đình A đã trộm cắp của anh. Anh Nguyễn Minh Đ yêu cầu bị cáo Trần Đình A bồi thường số tiền 15.000.000đồng là giá trị của chiếc laptop tại thời điểm bị trộm cắp.
Bản cáo trạng số 211/CT -VKS ngày 19/07/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội đã truy tố Trần Đình A về tội: "Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội đã nêu trên là đúng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về dân sự: Đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Đức D1 số tiền 6.000.000đồng. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Minh Đ số tiền 15.000.000đồng. Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 102 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi HyperOS là tài sản riêng của bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu xanh có biểu tượng FCB màu bạc trên mũ có quai vải màu đen; 01 mũ lưỡi trai vải rằn ri màu vàng nâu, trong mũ phía sau có mác trắng ghi kích thước mũ 58 cm; 01 áo khoác kiểu dáng áo phao gió có họa tiết rằn ri; 01 áo mưa kích thước 1,65m × 1,4m màu xanh than; 01 quần dài chất liệu kaki màu trắng sữa; 01 đôi giày thấp cố màu trắng sữa, đế giày màu nâu không còn giá trị sử dụng. Tạm giữ số tiền 3.000.000đồng là vật chứng của vụ án để bảo đảm thi hành án.
Bị cáo nói lời sau cùng, nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hai Bà Trưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án thể hiện như sau. Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/03/2024, tại tầng B tòa nhà A trường Đại học B, thuộc phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; bị cáo Trần Đình A có hành vi chiếm đoạt 01 chiếc ba lô của anh Phạm Đức D1 bên trong ba lô có 01 chiếc ví da nhãn hiệu Tomy chứa số tiền 6.000.000đồng, tổng cộng giá trị tài sản là 7.000.000đồng. Ngoài ra khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/3/2024 tại ghế đá tại khu vực ký túc xá trường Đại học B, thuộc phường B, quận H, Thành phố Hà Nội; Trần Đình A tiếp tục có hành vi chiếm đoạt 01 chiếc ba lô màu đen bên trong có 01 laptop Macbook Pro màu xám của anh Nguyễn Minh Đ có giá trị là 15.000.000đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo Trần Đình A chiếm đoạt là 22.000.000đồng. Do đó đủ căn cứ khẳng định bị cáo Trần Đình A phạm tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Việc truy tố, xét xử bị cáo là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
[3]. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Song do thiếu tu dưỡng rèn luyện, tham lam tư lợi và coi thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội. Bản thân bị cáo có nhiều tiền án và nhiều tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, mặc dù các tiền án đã được xóa án tích, các tiền sự đã hết thời hiệu, nhưng để đánh giá về nhân thân của bị cáo xác định bị cáo có nhân thân rất xấu. Trong vụ án này bị cáo phạm tội 02 lần đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải. Đó là tình tiết để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với pháp luật. Tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về vật chứng: Cần trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi HyperOS đây là tài sản riêng của bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu xanh có biểu tượng FCB màu bạc trên mũ có quai vải màu đen; 01 mũ lưỡi trai vải rằn ri màu vàng nâu, trong mũ phía sau có mác trắng ghi kích thước mũ 58 cm; 01 áo khoác kiểu dáng áo phao gió có họa tiết rằn ri; 01 áo mưa kích thước 1,65m x 1,4m màu xanh than; 01 quần dài chất liệu kaki màu trắng sữa; 01 đôi giày thấp cố màu trắng sữa, đế giày màu nâu; Các vật chứng này không còn giá trị sử dụng. Tạm giữ số tiền 3.000.000đồng là vật chứng của vụ án để bảo đảm thi hành án.
[5] Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 cần buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Phạm Đức D1 số tiền 6.000.000đồng. Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Nguyễn Minh Đ số tiền 15.000.000đồng; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thùy L1 đã tự nguyện nộp lại số tiền 3.000.000đồng là tiền do bị cáo trộm cắp nhưng chị L1 không biết và nay không có ý kiến thắc mắc gì.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Đình A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Đình A: 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/03/2024.
Về dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc bị cáo Trần Đình A phải bồi thường cho anh Phạm Đức D1, sinh năm 2004; Đăng ký thường trú: Số B tổ G H, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang số tiền 6.000.000đồng(sáu triệu đồng). Buộc bị cáo Trần Đình A phải bồi thường cho anh Nguyễn Minh Đ, sinh năm 2003; Đăng ký thường trú: Thôn X, xã Q, huyện S, Thành phố Hà Nội số tiền 15.000.000đồng(mười lăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Về vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi HyperOS là tài sản riêng của bị cáo; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm lưỡi chai màu xanh có biểu tượng FCB màu bạc trên mũ có quai vải màu đen; 01 mũ lưỡi trai vải rằn ri màu vàng nâu, trong mũ phía sau có mác trắng ghi kích thước mũ 58 cm; 01 áo khoác kiểu dáng áo phao gió có họa tiết rằn ri; 01 áo mưa kích thước 1,65m x 1,4m màu xanh than; 01 quần dài chất liệu kaki màu trắng sữa; 01 đôi giày thấp cố màu trắng sữa, đế giày màu nâu không còn giá trị sử dụng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng số 237/24 ngày 14/8/2024). Tạm giữ số tiền 3.000.000đồng là vật chứng của vụ án để bảo đảm thi hành án (theo giấy nộp tiền vào tài khoản giữa Công an quận H với Chi cục Thi hành án dân sự quận Hai Bà Trưng ngày 14/8/2024).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.050.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
|
Nơi nhận: - VKSND Q. Hai Bà Trưng. - VKS TP. Hà Nội - Công an Q. Hai Bà Trưng. - Bị cáo. - Lưu./. |
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Văn Tiến |
Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 209/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đình A phạm tội trộm cắp tài sản
