|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 209/2024/HS-ST Ngày: 14-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI
NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nhung và ông Lê Văn Ninh.
Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phụng, Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 195/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Thanh T; sinh ngày 16 tháng 12 năm 2001 tại Bắc Giang; nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1975, đã chết; và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt.
Bị hại: Anh Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1997, địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Phan Thị N, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ G, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
- - Bà Đàm Thị H1; vắng mặt.
- - Chị Nguyễn Hồng H2; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Ngọc T2; vắng mặt.
- - Anh Đinh Tuấn D; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Hồng S; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 04/02/2024, anh Nguyễn Ngọc L (Sinh năm 1997, nơi đăng ký HKTT: Tổ G, phường T, thành phố T) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn xanh vàng, BKS: 20B1-776.05 đến nhà hàng L1 thuộc phường P, thành phố T để ăn tất niên cùng bạn là anh Nguyễn Hồng S (Sinh năm 1999, HKTT: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Bắc Giang) và một số người bạn khác, sau đó Hoàng Thanh T cũng đến ăn uống cùng. Khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, anh L điều khiển xe mô tô BKS: 20B1-776.05 cùng bạn của mình đến quán K thuộc tổ H, phường T, thành phố T để hát karaoke. Khi đến nơi, anh L để xe mô tô ở trước cửa quán. Khi vào phòng hát, anh L để chìa khóa xe mô tô BKS: 20B1-776.05 ở trên bàn và cầm mic để hát. Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Hoàng Thanh T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của anh L mang đi cầm cố. Khoảng 00 giờ ngày 05/02/2024, lợi dụng lúc anh L không để ý, T lén lút lấy chìa khóa xe mô tô của anh L cho vào túi quần bên phải rồi đi bộ ra cửa quán. Trên đường ra cửa quán đến vị trí để chiếc xe mô trên thì gặp anh Đinh Tuấn D (Sinh năm 2001, HKTT: Xóm G, xã P, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên), D nhờ T chở ra khu vực cổng trường Đại học C. T đồng ý và dùng chìa khóa xe khởi động xe, T điều khiển xe mô tô BKS: 20B1-776.05 vừa trộm cắp được của anh L chở D đến cổng trường Đại học C rồi T điều khiển chiếc xe đi về phòng trọ của bạn là anh Nguyễn Ngọc T2 (Sinh năm 2003, HKTT: Xã A, huyện T, tỉnh Bắc Giang) ngủ nhờ và để chiếc xe tại đây. Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/02/2024, sau khi hát karaoke xong, anh L ra về phát hiện xe mô tô của mình bị mất trộm nên đã đến Công an phường T, thành phố T trình báo.
Khoảng 07 giờ ngày 05/02/2024, do sợ bị phát hiện nên Hoàng Thanh T điều khiển xe mô tô BKS: 20B1-776.05 đến quán game “Không gian ảo” thuộc tổ I, phường T, T chị Nguyễn Hồng H2 (Sinh năm 1994, HKTT: Tổ E, phường P, thành phố T) làm chủ. T không vào chơi game, không nói gì với chị H2 mà để chiếc xe ở trước cửa quán game rồi đi bộ về phòng ở phường T và sau đó đi ăn trưa. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, anh L đi tìm T phát hiện T đi bộ ở cổng trường Đại học C nên yêu cầu T trả xe và đưa T đến cơ quan Công an làm việc.
Ngày 06/02/2024, Công an phường T tiến hành rà soát camera an ninh, tại tầng 1 quán K thu giữ 02 đoạn video clip từ camera ghi lại hình ảnh sự việc.
Ngày 09/02/2024, Cơ quan điều tra tiến hành mở niêm phong, đọc nội dung video clip thu giữ với sự tham gia của Hoàng Thanh T, T xác định nam thanh niên lấy trộm xe mô tô của anh L trong đoạn video clip chính là T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 47/KL-HĐĐGTS ngày 23/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn xanh vàng, BKS: 20B1-776.05, thời điểm định giá ngày 05/02/2024 có giá trị là 18.500.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn xanh vàng, số máy: JF45E0685186, số khung: 4513FY634232, BKS: 20B1-776.05. Đăng ký xe mang tên bà Phan Thị N (Sinh năm 1968, HKTT: Tổ G, phường T, thành phố T) là mẹ đẻ của anh Nguyễn Ngọc L. Bà N cho anh L mượn chiếc xe mô tô trên làm phương tiện đi lại. Hiện chiếc xe đã được thu hồi, trả lại cho bà N quản lý, sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Ngọc L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu Hoàng Thanh T phải bồi thường.
Cáo trạng số 201/CT-VKSTPTN ngày 21 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Hoàng Thanh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51, điều 65 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Thanh T từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách; phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án (đã có đơn xin xét xử vắng mặt), người làm chứng; bị cáo không có ý kiến về sự vắng mặt của những người trên; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên đề nghị xét xử vắng mặt; việc Tòa án xét xử vắng mặt không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng này theo quy định tại Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thanh T khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở đã xác định:
Do cần tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân, khoảng 00 giờ ngày 05/02/2024, tại tổ H, phường T, thành phố T, Hoàng Thanh T có hành vi lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Ngọc L 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA LEAD, màu sơn xanh vàng, trị giá 18.500.000 đồng. Hiện chiếc xe đã được thu hồi, trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
Hành vi của bị cáo Hoàng Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS. Điều luật quy định:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
- Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh mới đảm bảo tính răn đe của pháp luật và mang tính phòng ngừa chung.
- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.
- Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự. Mẹ đẻ của bị cáo T được Ban tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua của Hội; ông nội, ông ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; do đó bị cáo được hưởng thêm 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; chưa có tiền án tiền sự, là người có nhân thân tốt; có 06 tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù và việc cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập nên không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên toà về điều luật áp dụng, hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Thanh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều 136, 292, 293, 299, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Thanh T 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hoàng Thanh T có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Bắc Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 điều 92 và Điều 68 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
- Quyền kháng cáo bản án: Thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án./.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
- - VKSND thành phố Thái Nguyên;
- - Công an thành phố Thái Nguyên;
- - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên;
- - Bị cáo; bị hại; người có QLNVLQ;
- - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;
- - Lưu: Văn phòng, hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Văn Ninh – Nguyễn Thị Nhung |
Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 209/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 209/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
