|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 209/2024/DSST
Ngày 12 tháng 8 năm 2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Đỗ Thị Sỹ Long
- Ông Nguyễn Hải Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình:
Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án Dân sự thụ lý số 81/2024/TLST - DS về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” ngày 15 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 228/2024/QĐST - DS ngày 03 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 285/2024/QĐST-HPT ngày 28 tháng 7 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N (A2). Địa chỉ trụ sở chính: Số B L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số: 0100686174 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp ngày 26/02/2004, đăng ký thay đổi lần thứ 14 ngày 02/12/2022; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Chức vụ: Tổng Giám đốc A2.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị L. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N - Chi nhánh Đ. Theo Quyết định về bổ nhiệm đối với cán bộ số 293/QĐ-HĐTV-UBNS ngày 26/06/2020 và Quyết định số 2665/QĐ-NHNo–PC ngày 01/12/2022. Bà Nguyễn Thị L ủy quyền lại cho bà Phạm Thị H theo Quyết định số 1495/QĐ-NHNOĐHN-TH ngày 10/5/2024. Bà H có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Ông Trần Thanh B, sinh năm 1981. Chứng minh nhân dân số [...] do Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 23/01/2015. Hộ khẩu thường trú tại: Tổ A phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội và bà Ngô Thị Minh H1, sinh năm 1987. Chứng minh nhân dân số [...] do Công an P cấp ngày 19/05/2005. Hộ khẩu thường trú tại: xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ. Ông B và bà H1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Anh T, sinh năm 1959, Chứng minh nhân dân số [...] do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về TTXH cấp ngày 25/09/2012 (Chứng minh nhân dân trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số [...]). Hộ khẩu thường trú tại: ấp B, xã H, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Ông Tuấn A vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa.
- Bà Ngô Thị Minh T1, sinh năm 1962, Chứng minh nhân dân số [...] do Cục Cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 31/10/2014 (Chứng minh nhân dân trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số [...]). Hộ khẩu thường trú tại: Số H ngõ G T, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội. Bà T1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa.
- Bà Trần Thị L1, sinh năm 1967, chứng minh nhân dân số [...] do Công an thành phố H cấp ngày 10/05/2007. Hộ khẩu thường trú: số I ngõ A Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội. Bà L1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Vũ T2, sinh năm 1961 (đã chết), chứng minh nhân dân số [...] do Công an thành phố H cấp ngày 10/05/2007. Hộ khẩu thường trú: số B T, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Vũ T2: Bà Trần Thị L1, sinh năm 1967; anh Vũ Anh T3, sinh năm 1991; chị Vũ Quỳnh H2, sinh năm 2001. Hộ khẩu thường trú: Số 1 ngõ A Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội. Bà L1 xin vắng mặt tại phiên tòa, anh T3 và chị H2 vắng mặt lần thứ hai không có lý do tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm Ngân hàng N do người đại diện theo ủy quyền bà Phạm Thị H trình bầy:
Ngân hàng N – Chi nhánh Đ và ông Trần Thanh B, bà Ngô Thị Minh H1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017. Mục đích vay: Vay bù đắp mua nhà ở và đất ở. Thời hạn cho vay của Hợp đồng tín dụng là 120 tháng, ngày hết hạn hợp đồng tín dụng là ngày 12/5/2027, lãi suất vay hiện tại là 11,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng đã ký kết: Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 là Hợp đồng tín dụng có thời hạn hiệu lực 120 tháng. Số tiền cho vay là 25.000.000.000 đồng. Sau khi ký hợp đồng tín dụng đến thời điểm khởi kiện ngày 25/12/2023, doanh số cho vay là 25.000.000.000 đồng, doanh số thu nợ là 19.166.717.182 đồng. Trong đó, nợ gốc là 10.000.000.000 đồng, nợ lãi là 9.166.717.182 đồng. Khoản nợ vay đã quá hạn lãi từ ngày 16/6/2022, quá hạn gốc từng phần từ ngày 16/3/2023.
Tính đến ngày 12/8/2024 tổng nợ của ông B, bà H1 tại Ngân hàng là 21.197.506.849 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 đồng.
Ngân hàng áp dụng tỷ lệ cho vay đối với ông B, bà H1: 100% dư nợ khoản vay có tài sản đảm bảo.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 45c tờ bản đồ số 34, địa chỉ số F ngõ A đường Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 868705, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H, hồ sơ gốc số: 3183/2009/QĐ-UB/492/2009 do UBND quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 29/10/2009. Chủ sở hữu: Bà Ngô Thị Minh T1 và Ông Lê Anh T. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh Quận T. Giá trị định giá: 66.872.300.000 đồng. Phạm vi bảo đảm cụ thể như sau: khoản vay của ông Trần Thanh B cùng vợ là bà Ngô Thị Minh H1 là 25.000.000.000 đồng, khoản vay của bà Trần Thị L1 cùng chồng là ông Vũ T2 là 25.000.000.000 đồng.
Khoản vay của ông Trần Thanh B đã quá hạn lãi từ ngày16/6/2022, quá hạn gốc từng phần từ ngày 16/3/2023. Khi khoản vay của ông B, bà H1 tại Hợp đồng tín dụng nêu trên quá hạn, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, làm việc, gửi thông báo. Phía ông B, bà H1 và Người có nghĩa vụ quyền lợi liên quan đã đưa ra nhiều cam kết trả nợ. Tuy nhiên, đến thời điểm khởi kiện, ông B, bà H1 vẫn không thực hiện trả nợ theo cam kết.
Nay A2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:
- Buộc ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải trả cho Ngân hàng N số tiền theo Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 tạm tính đến ngày 12/8/2024 là 21.197.506.849 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 đồng.
- Ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các văn bản kèm theo kể từ ngày 13/8/2024 cho đến ngày ông Trần Thanh B cùng vợ là bà Ngô Thị Minh H1 trả hết nợ cho Ngân hàng.
- Trường hợp ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 không trả nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản đảm bảo: - Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 45c tờ bản đồ số 34, địa chỉ số F ngõ A đường Đ, phường Q, quận T, Tp. theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 868705, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H, hồ sơ gốc số: 3183/2009/QĐ-UB/492/2009 do UBND quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 29/10/2009. Chủ sở hữu: Bà Ngô Thị Minh T1 và ông Lê Anh T. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh Quận T. Giá trị định giá: 66.872.300.000 đồng. Phạm vi bảo đảm cụ thể như sau: khoản vay của ông Trần Thanh B cùng vợ là bà Ngô Thị Minh H1 là 25.000.000.000 đồng, khoản vay của bà Trần Thị L1 cùng chồng là ông Vũ T2 là 25.000.000.000 đồng.
- Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì A2 Chi nhánh Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Trần Thanh B cùng vợ là bà Ngô Thị Minh H1 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí.
* Bị đơn: ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 thống nhất trình bày:
Ông bà xác nhận ngày 11/5/2017, ông bà và Ngân hàng N – Chi nhánh Đ có ký kết hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170. Thời hạn cho vay của Hợp đồng tín dụng là 120 tháng, ngày hết hạn HĐTD là 12/5/2027, lãi suất vay hiện tại là 11,5%/năm, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Số tiền cho vay là 25.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm tỷ đồng). Sau khi ký hợp đồng tín dụng ngân hàng đã giải ngân cho Ông bà số tiền 25.000.000.000 đồng.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên gồm: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 45c tờ bản đồ số 34, địa chỉ số F ngõ A đường Đ, phường Q, quận T, Tp. theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 868705, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H, hồ sơ gốc số: 3183/2009/QĐ-UB/492/2009 do UBND quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 29/10/2009 đứng tên bà Ngô Thị Minh T1 và ông Lê Anh T. Nghĩa vụ bảo đảm của tài sản trên được nêu tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C. Tài sản đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Văn phòng Đ1 – Chi nhánh Quận T.
Thực chất ông bà ký hợp đồng tín dụng này là để đứng tên vay hộ cho ông Lưu Văn T4 – Giám đốc công ty CP C1.
Đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N, Ông bà có ý kiến như sau: Ông bà xác nhận tính đến ngày 25/12/2023, ông bà còn nợ Ngân hàng N số tiền như sau: Nợ gốc: 15.000.000.000 đồng; Nợ lãi: 5.042.849.315 đồng. Tổng cộng: 20.042.849.315 đồng theo hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017.
Ông bà xác nhận đây là khoản vay ông bà vay cho ông T4 vì vậy ông T4 sẽ có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng. Ông bà cũng đã liên hệ với ông T4 để ông T4 thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Ông T4 cũng nói với ông bà là đang làm việc với ngân hàng để đưa ra phương án trả nợ đối với khoản vay nêu trên.
Ông bà đã được Tòa án giải thích về yêu cầu phản tố, ông bà đã hiểu và không có yêu cầu phản tố trong vụ án này.
Do hiện nay ông bà bận đi làm ăn ở xa vì vậy không thể đến Tòa án làm việc được. Ông bà xin vắng mặt trong các buổi làm việc tại Tòa án, các buổi xem xét thẩm định tại chỗ, phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như trong quá trình tố tụng của Tòa án.
Ngoài ra, ông bà không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L1 trình bày:
Đối với tài sản thế chấp tại địa chỉ thửa đất số 45c tờ bản đồ số 34, địa chỉ số F ngõ A đường Đ, phường Q, quận T, Tp . theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 868705, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H, hồ sơ gốc số: 3183/2009/QĐ-UB/492/2009 do UBND quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 29/10/2009 đứng tên bà Ngô Thị Minh T1 và ông Lê Anh T theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016. Bản chất của sự việc này là do vợ chồng bà ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp để cho ông Lưu Văn T4. Địa chỉ: Số C ngõ G T, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội vay. Vợ chồng ông bà cũng không được nhận tiền theo hợp đồng tín dụng cũng như bất khoản tiền nào từ ông Lưu Văn T4. Tài sản thế chấp tại số F ngõ A Đ để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng bà và vợ chồng ông B, bà H1.
Chồng bà là ông Vũ T2, sinh năm 1961, ông T2 mất ngày 19/8/2022 và bà cung cấp cho Tòa án trích lục khai tử của ông T2. Bố mẹ chồng ông bà là cụ Vũ Hoa B1 và Lê Thị B2 đã chết từ lâu. Hiện nay, mộ phần của các cụ được an táng tại nghĩa trang B3, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội.
Bà L1 và ông T2 có hai người con chung là anh Vũ Anh T3, sinh năm 1991 và chị Vũ Quỳnh H2, sinh năm 2001. Địa chỉ: Số H ngõ A Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ngân hàng N: Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà đề nghị Tòa án liên hệ với ông Lưu Văn T4 để giải quyết vì vợ chồng bà không liên quan.
Do hiện nay bà đã già yếu, sức khỏe không tốt nên bà xin vắng mặt trong các buổi làm việc tại Tòa án, các phiên hòa giải, buổi xem xét thẩm định, phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như các giai đoạn tố tụng khác của Tòa án.
Ngoài ra, bà không có yêu cầu hay đề nghị gì khác.
Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về việc triệu tập lấy lời khai và tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa cho các đương sự. Tuy nhiên, các đương sự không thống nhất được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải cho các đương sự được, Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên Tòa phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán quy định tại Điều 48 BLTTDS, cụ thể:
- Về thẩm quyền: Căn cứ Điều 12 của Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền giải quyết: “Hai bên cam kết thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng. Nếu có tranh chấp hai bên sẽ giải quyết bằng thương lượng dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Trường hợp không thể giải quyết bằng thương lượng, hai bên sẽ đưa ra giải quyết tại tòa án nơi bên A – Ngân hàng N đóng trụ sở hoặc theo quy định của pháp luật”. Căn cứ tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015, việc Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định.
- Về quan hệ pháp luật tranh chấp và tư cách các đương sự: Thẩm phán đã xác định đúng quan hệ pháp luật theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và tư cách người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 68 BLTTDS:
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, thư ký tòa án tại phiên tòa: Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại chương 14 của BLTTDS sửa đổi về phiên tòa sơ thẩm :
- Chấp hành đúng theo các nguyên tắc cơ bản về xét xử và thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quy định của BLTTDS.
- Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 51 BLTTDS.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án:
- Đối với đương sự: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 234 BLTTDS.
Nguyên đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS trong việc nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ, nộp tạm ứng án phí và trình bày yêu cầu của mình. Chấp hành đúng nội quy phiên tòa theo Điều 234 BLTTDS.
Bị đơn đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 72 BLTTDS.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại các Điều 70, Điều 73 BLTTDS.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A2; Buộc ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải thanh toán trả cho A2 số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 12/8/2024, tổng dư nợ gốc và lãi của ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 là: 21.197.506.849 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 đồng và khoản lãi phát sinh sau ngày 12/8/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc theo lãi suất quy định tại Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các phụ lục hợp đồng, văn bản sửa đổi, bổ sung kèm theo.
Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C là đúng quy định pháp luật. Chấp nhận yêu cầu của A2 trong trường hợp ông B, bà H1 không thanh toán được khoản nợ trên thì A2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án xử lý tài sản thế chấp theo quy định của pháp luật.
Án phí sơ thẩm:
- Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị đơn: ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng:
Đây là vụ án yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các phụ lục hợp đồng, văn bản sửa đổi, bổ sung kèm theo được ký giữa A2 với ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1, mục đích vay: Cho vay bù đắp mua nhà tại địa chỉ: Số A ngõ A T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AB399374 do UBND quận T cấp ngày 17/8/2005. Do vậy, xác định đây là tranh chấp dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 12 của Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết thỏa thuận về Tòa án có thẩm quyền giải quyết: “Hai bên cam kết thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng. Nếu có tranh chấp hai bên sẽ giải quyết bằng thương lượng dựa trên nguyên tắc bình đẳng và cùng có lợi. Trường hợp không thể giải quyết bằng thương lượng, hai bên sẽ đưa ra giải quyết tại tòa án nơi bên A – Ngân hàng N đóng trụ sở hoặc theo quy định của pháp luật”. Do ông B, bà H1 không thanh toán được khoản nợ cho A2 khi đến hạn trả nợ, A2 đã khởi kiện ông B, bà H1 đến Tòa án nhân dân quận Ba Đình. A2 đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông B, bà H1 phải thanh toán trả A2 toàn bộ khoản nợ gốc và lãi phát sinh. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 425 Bộ luật dân sự 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền và còn thời hiệu.
[2]. Về nội dung:
Căn cứ vào Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các phụ lục hợp đồng, văn bản sửa đổi, bổ sung kèm theo ký giữa ông B, bà H1 và A2; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C giữa ông Lê Tuấn A1 và bà Ngô Thị Minh T1. A2 đã giải ngân cho ông B, bà H1 tổng số tiền là: 25.000.000.000 đồng. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng ông B, bà H1 đã thanh toán trả cho A2 tổng cộng 19.166.717.182 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 10.000.000.000 đồng; Nợ lãi là 9.166.717.182 đồng.
Tại phiên tòa hôm nay, A2 xác nhận ông B, bà H1 còn nợ A2 tổng số tiền là: 21.197.506.849 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 đồng tạm tính đến ngày 12/8/2024.
Hội đồng xét xử nhận thấy, Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các phụ lục hợp đồng, văn bản sửa đổi, bổ sung kèm theo được các bên ký kết trên cơ sở tự nguyện và phù hợp với các quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật Dân sự. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng ông B, bà H1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán kể từ ngày 16/6/2022 đối với khoản lãi và quá hạn gốc từng phần từ 16/3/2023 nên theo Điều 3 của Hợp đồng tín dụng đã ký thì khoản nợ của ông B, bà H1 chuyển thành nợ quá hạn. Nay A2 khởi kiện buộc ông B, bà H1 phải thanh toán cho A2 tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 21.197.506.849 đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 đồng.
Xét thấy việc thỏa thuận lãi trong hạn, lãi quá hạn và cách tính lãi trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp là đúng pháp luật và phù hợp với quy định của pháp luật và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, phù hợp với Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nên được chấp nhận. Do đó, việc A2 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông B, bà H1 phải thanh toán trả A2 số tiền nợ trên là có căn cứ chấp nhận.
[3]. Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của A2:
Xét yêu cầu đề nghị Tòa án tuyên khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông B, bà H1 không thanh toán trả cho A2 nợ gốc và nợ lãi thì A2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản bảo đảm để thi hành án.
Hội đồng xét xử thấy: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C. Ông Tuấn A1 và bà T1 đã đồng ý thế chấp tài sản của mình là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 45c tờ bản đồ số 34, địa chỉ số F ngõ A đường Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 868705, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H, hồ sơ gốc số: 3183/2009/QĐ-UB/492/2009 do UBND quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 29/10/2009 thế chấp cho A2 bảo đảm cho khoản vay của ông B, bà H1 theo Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các phụ lục hợp đồng, văn bản sửa đổi, bổ sung kèm theo. Hợp đồng thế chấp tài sản nói trên được các bên ký kết tại Văn phòng C và được công chứng viên công chứng. Việc ký kết là hoàn toàn tự nguyện không trái các quy định của pháp luật và đã được ông Tuấn A1, bà T1 đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản thế chấp ngày 14/9/2016. Mặt khác, tài sản thế chấp đã được Văn phòng Đ1 – Chi nhánh Quận T chứng nhận việc thế chấp ngày 19/9/2016. Việc ông Tuấn A1, bà T1 ký hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và các bên tham gia ký kết có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, việc ông Tuấn A1, bà T1 dùng tài sản của mình để đảm bảo cho khoản vay của ông B, bà H1 theo Hợp đồng tín dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, có đủ căn cứ để xác nhận hợp đồng thế chấp nêu trên có giá trị pháp lí. Vì vậy, yêu cầu của A2 đề nghị Tòa án tuyên khi án có hiệu lực pháp luật mà ông B, bà H1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ thì A2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để đảm bảo thi hành án là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5]. Về án phí sơ thẩm:
A2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về hướng giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Nguyên đơn; bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;
Vì các căn cứ nhận định trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273; Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2010).
Căn cứ Điều 342, Điều 343, Điều 348, Điều 355; Điều 425 Điều 471; Điều 474; Điều 476 Bộ luật dân sự 2005.
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về “Giao dịch bảo đảm”.
Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012 về việc sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.
Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N yêu cầu ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng N toàn bộ nợ gốc, lãi trong hạn và nợ lãi quá hạn theo Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các khế ước nhận nợ kèm theo.
- Xác nhận ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 còn nợ Ngân hàng N số tiền nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 1420-LAV-201700170 ngày 11/5/2017 và các khế ước nhận nợ kèm theo tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 21.197.506.849 (Hai mươi mốt tỷ, một trăm chín mươi bảy triệu, năm trăm linh sáu nghìn, tám trăm bốn mươi chín) đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 (Mười lăm tỷ) đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 (Năm tỷ, bảy trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm linh hai nghìn, bảy trăm bốn mươi) đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 (Bốn trăm ba mươi tám triệu, chín trăm linh tư nghìn, một trăm mười) đồng.
- Buộc ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải thanh toán trả cho Ngân hàng N tổng số tiền tạm tính đến ngày 12/8/2024 là: 21.197.506.849 (Hai mươi mốt tỷ, một trăm chín mươi bảy triệu, năm trăm linh sáu nghìn, tám trăm bốn mươi chín) đồng, cụ thể: Nợ gốc là 15.000.000.000 (Mười lăm tỷ) đồng; Nợ lãi trong hạn 5.758.602.740 (Năm tỷ, bảy trăm năm mươi tám triệu, sáu trăm linh hai nghìn, bảy trăm bốn mươi) đồng; Nợ lãi quá hạn: 438.904.110 (Bốn trăm ba mươi tám triệu, chín trăm linh tư nghìn, một trăm mười) đồng.
Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi đối với khoản tiền nợ gốc cho đến khi thanh toán hết nợ theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký.
Trường hợp hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà ông B, bà H1 vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số tiền gốc và tiền lãi nói trên cho Ngân hàng N thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:
Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại: thửa đất số 45c tờ bản đồ số 34, địa chỉ số F ngõ A đường Đ, phường Q, quận T, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AO 868705, số vào sổ cấp GCN quyền sử dụng đất: H, hồ sơ gốc số: 3183/2009/QĐ-UB/492/2009 do UBND quận T, thành phố Hà Nội cấp ngày 29/10/2009 đứng tên bà Ngô Thị Minh T1 và ông Lê Anh T. Nghĩa vụ bảo đảm của tài sản trên được nêu tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người khác số 1771/NHNoĐHN-TD, số công chứng 2702/2016/HĐTC, quyển số 28/TP/CC-SCC/HĐGD ký ngày 13/09/2016 được chứng nhận bởi Văn phòng C.
Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong các hợp đồng tín dụng nêu trên, nếu có dư nợ Ngân hàng N phải trả lại cho bên thế chấp, nếu thiếu thì bên vay tiền tiếp tục phải trả cho Ngân hàng N số tiền còn thiếu.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Thanh B và bà Ngô Thị Minh H1 phải chịu 129.197.507 (Một trăm hai mươi chín triệu, một trăm chín mươi bảy nghìn, năm trăm linh bảy) đồng án phí dân sự sơ thẩm (chưa nộp).
- Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số: 0005024 ngày 15 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tòa tuyên án. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhung |
Bản án số 209/2024/DSST ngày 12/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 209/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
