Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 209/2024/HN-ST

Ngày: 11-7-2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Công Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Phạm Xuân Đào

  2. Bà Trần Thị Kim Thoa

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Diễm Thúy – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2024/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 330/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1980 (Có mặt)

    Địa chỉ: số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Kim K, sinh năm 1977 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Số A, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và tờ tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tuyết M trình bày, bà và ông Huỳnh Kim K tự nguyện tìm hiểu và sống chung vào năm 2002, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng chung sống với nhau đến đầu năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng hay ghen tuông vô cớ, bạo hành bà, nên vợ chồng hay cãi nhau. Gia đình hai bên có hàn gắn vợ chồng nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà M yêu cầu được ly hôn với ông K.

Về con chung: Bà M xác định vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh ngày 19/5/2003; Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh ngày 03/11/2004. Hiện 02 con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

Bị đơn ông Huỳnh Kim K đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án của bà M và triệu tập hợp lệ để giải quyết, nhưng ông K vắng mặt không lý do, nên không ghi nhận ý kiến và hòa giải được.

Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Tuyết M vẫn giữ nguyên yêu cầu.

Ông Huỳnh Kim K đã được tống đạt để tham gia phiên tòa, nhưng ông vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết M xin ly hôn ông Huỳnh Kim K.

Về quan hệ con chung: Bà M xác định vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh ngày 19/5/2003; Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh ngày 03/11/2004. Hiện 02 con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]- Về hình thức: Bà Nguyễn Thị Tuyết M khởi kiện xin ly hôn ông Huỳnh Kim K có nơi cư trú ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Ông Huỳnh Kim K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng ông K vắng mặt không lý do chính đáng. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Huỳnh Kim K là có căn cứ.

[2]- Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Tuyết M và ông Huỳnh Kim K sống chung vào năm 2002, có đăng ký kết hôn theo qui định. Vợ chồng sống đến năm 2022 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng hay ghen tuông vô cớ, bạo hành bà, nên vợ chồng hay cãi nhau. Gia đình hai bên có hàn gắn vợ chồng nhưng không được. Vợ chồng không còn sống chung từ năm 2022 đến nay. Nhận thấy tình cảm không còn, bà M xin ly hôn ông K. Hội đồng xét xử xét thấy, bà M và ông K kết hôn với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án xin ly hôn của bà M, nhưng ông K không có ý kiến gì và vắng mặt trong các buổi hòa giải, điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa hai người đã trầm trọng, nếu sống chung lại cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc bà M xin ly hôn ông K là có cơ sở phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết M.

[2.1]- Về quan hệ con chung: Bà M xác định vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh ngày 19/5/2003; Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh ngày 03/11/2004. Hiện 02 con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[2.2]- Về quan hệ tài sản chung: Bà M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.3]- Về nợ chung: Bà M xác định không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

[3]- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

  • Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Tuyết M xin ly hôn ông Huỳnh Kim K.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 38 ngày 02/6/2003 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre không còn giá trị pháp lý.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thị Kim N, sinh ngày 19/5/2003; Huỳnh Thị Tuyết N1, sinh ngày 03/11/2004, hiện 02 con đã thành niên.

Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Ghi nhận bà M xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung trong thời kỳ hôn nhân thì bà M, ông K vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tuyết M phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0015425 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.

Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;

  • - VKSND huyện Chợ Mới;

  • - Chi cục THADS huyện Chợ Mới;

  • - Các đương sự;

  • - UBND xã Tấn Mỹ;

  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HN-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 209/2024/HN-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger