TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 209/2024/DS-ST Ngày: 10 - 9 - 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung và ông Dương Thanh Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa. Ông Y Khang Ê Ban - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2024 và ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 71/2024/TLST-DS ngày 29/01/2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXX-DSST ngày 22 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N (viết tắt ngân hàng)
Địa chỉ trụ sở chính: Số B L, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Đoàn Việt T- Phó giám đốc
Địa chỉ: Số D - D Q, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Có mặt)
Bị đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm: 1952.
Địa chỉ: Số A - Tỉnh lộ 5, thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.(Có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Tiến D1 (Có mặt) và bà Trần Thị Uyên C (Vắng mặt)
- Bà Hồ Thị Kim T1 và ông Trần Anh H.
Cùng nơi cư trú: Số A - Tỉnh lộ 5, thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Tại đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Việt T2 trình bày:
Ngày 18/04/2023, bà Trần Thị D vay vốn tại Ngân hàng N Chi nhánh thành phố B, Bắc Đ theo hợp đồng tín dụng và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số: 5201-LAV-202300190 ngày 18/04/2023; Số tiền vay: 4.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Kinh doanh tạp hóa; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất vay: 10,5%/năm; Ngày đến hạn trả tiền gốc là: 18/02/2024; Nghĩa vụ trả nợ lãi định kỳ trả lãi 03 tháng/01 kỳ vào ngày 18 hàng tháng.
Khoản vay nói trên được đảm bảo bởi: Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 201119/88/HĐTC ngày 20/11/2019; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 270421/88/VBSĐ ký ngày 27/04/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 140422/88/HĐSĐ ký ngày 14/04/2022 có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B. Cụ thể như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BT883149 do UBND thành phố B cấp ngày 20/04/2015; Số vào sổ: CH-09698;Thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30, diện tích đất: 1.096 m²; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 1096 m²; Mục đích sử dụng đất: Đất ở 225m², Đất trồng cây hàng năm khác 871m²; Thời hạn sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn: Lâu dài; Đất trồng cây hàng năm khác, thời hạn sử dụng đất đến ngày 15/10/2063; Nguồn gốc sử dụng đất: Nhận thừa kế đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất *Cấp đổi*. Địa chỉ đất: Thôn B, Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Giá trị tài sản thế chấp là: 5.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm tỷ đồng).
Quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 26/9/2023 bà D mới trả được cho ngân hàng số tiền lãi suất là 107.013.699đồng. Đến hạn trả lãi tiếp theo mà bà D không trả cho ngân hàng, khoản vay đã quá hạn từ ngày 18/10/2023. Đến nay khoản vay gốc cũng đã quá hạn nhưng bà D cũng chưa trả cho ngân hàng. Mặc dù ngân hàng đã cho bà D thời gian để bán tài sản để trả nợ và tại Tòa án bà D cũng cam kết đến ngày 10/9/2024 sẽ trả nợ cho ngân hàng nhưng đến hôm nay bà D vẫn cố tình không trả.
Vì vậy ngân hàng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị D trả cho ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 10/9/2024 là: 4.618.637.854 đồng, trong đó: Nợ gốc: 4.000.000.000 đồng, nợ lãi là 618.637.854 đồng. Bà D tiếp tục chịu toàn bộ lãi, lãi quá hạn và phí phát sinh trên số dư nợ gốc từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Thời hạn trả ngày 30/9/2024.
Trường hợp bà Trần Thị D không thực hiện đúng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Tòa án xử lý toàn bộ tài sản đang thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BT883149 do UBND thành phố B cấp ngày 20/04/2015; Thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30, diện tích đất: 1.096 m²; Mục đích sử dụng đất: Đất ở 225m², Đất trồng cây hàng năm khác 871m²; Thời hạn sử dụng đất: Đất ở tại nông thôn: Lâu dài; Đất trồng cây hàng năm khác: 15/10/2063. Địa chỉ đất: Thôn B, Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để đảm bảo cho các khoản vay của Bà Trần Thị D và các tài sản khác theo quy định của pháp luật để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng. Đối với ý kiến của bà D xin miễn, giảm lãi suất thì tại phiên tòa hôm nay ngân hàng không thể miễn, giảm lãi suất cho bà D mà khi nào bà D thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng mới có căn cứ trình miễn, giảm lãi lên cấp trên.
2. Trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị D trình bày:
Do có nhu cầu vay vốn để kinh doanh nên từ năm 2019 tôi đã vay tiền tại Ngân hàng N Chi nhánh thành phố B, Bắc Đ. Khoản vay này của tôi đến hạn nên tôi tất toán khoản vay này và vay lại. Hợp đồng gần đây nhất là ngày 18/04/2023, tôi vay vốn tại Ngân hàng N Chi nhánh thành phố B, Bắc Đ theo hợp đồng tín dụng cụ thể như sau: Hợp đồng tín dụng số: 5201-LAV-202300190 ngày 18/04/2023; tôi vay số tiền: 4.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: Kinh doanh tạp hóa; Thời hạn vay: 12 tháng; Lãi suất vay: 10,5%/năm; Ngày đến hạn gốc: 18/02/2024.
Khi vay tiền tôi có thế chấp: Thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30, diện tích đất: 1.096 m²; Hình thức sử dụng: Sử dụng riêng: 1096 m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số seri BT883149 do UBND thành phố B cấp ngày 20/04/2015 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 201119/88/HĐTC ngày 20/11/2019; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 270421/88/VBSÐ ký ngày 27/04/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 140422/88/HĐSĐ ký ngày 14/04/2022 và có đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B.
Quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 26/9/2023 tôi đã trả được cho ngân hang số tiền lãi suất 107.013.699đồng, sau đó làm ăn khó khăn, nên tôi không có tiền để trả cho ngân hang. Đến nay cũng đã đến hạn trả tiền gốc nhưng tôi chưa bán được tài sản để trả tiền cho ngân hàng. Tôi có hẹn với ngân hàng đến ngày 10/9/2024 tôi bán tài sản để trả nợp cho ngân hàng nhưng hiện nay đã có nhiều người đến hỏi mua tài sản nhưng trả giá đang thấp nên tôi chưa bán được tài sản để trả nợ cho ngân hàng.
Hiện nay ngân hàng khởi kiện tôi yêu cầu trả tiền gốc và lãi suất đến ngày 10/9/2024 với số tiền là: 4.618.637.854 đồng, trong đó: Nợ gốc: 4.000.000.000 đồng và nợ lãi là 618.637.854 đồng và tiếp tục chịu toàn bộ lãi, lãi quá hạn và phí phát sinh trên số dư nợ gốc từ ngày 11/9/2024 cho đến khi trả hết nợ gốc thì tôi đồng ý trả nợ gốc còn tiền lãi suất mong ngân hàng xem xét giảm lãi suất cho tôi. Tôi xin thời hạn trả chậm nhất ngày 30/9/2024, sau ngày 30/9/2024 tôi không trả được nợ thì tôi đồng ý xử lý toàn bộ tài sản đã thế chấp cho Ngân hàng bán để thu hồi nợ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
3.1. Ông Lê Tiến D1 và bà Trần Thị Uyên C trình bày:
Tôi (Lê Tiến D1) là con rể của bà D và bà Trần Thị Uyên C là con gái của bà D. Năm 2006 bà D cho vợ chồng tôi một lô đất để làm nhà ở diện tích chiều ngang 4,2m x dài 20m (hiện nay xây nhà diện tích 120m²) thuộc thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30; diện tích đất: 1.096 m² tại Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vợ chồng tôi đã làm một nhà cấp 4 để ở từ năm 2006 đến nay, bà D cho chúng tôi cho bằng miệng chứ không có giấy tờ gì. Quá trình bà D thế chấp toàn bộ tài sản có cả tài sản đã cho vợ chồng chúng tôi để vay tiền của ngân hàng thì chúng tôi đều không biết. Khi Tòa án xuống xem xét thẩm định tại chỗ thì chúng tôi mới biết. Ngân hàng đã cho gia đình tôi thời hạn chậm nhất đến ngày 10/9/2024, gia đình tôi sẽ bán tài sản trả nợ cho ngân hàng. Đến ngày hôm nay, gia đình tôi cũng chưa bán được tài sản để trả nợ cho ngân hàng. Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng N1 và bà Trần Thị D đối với thửa đất 298, tờ 30, diện tích 1.096m² tại xã C, thành phố B thì vợ chồng tôi không có ý kiến và không có yêu cầu độc lập gì. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của bà D, nếu bà D không bán được tài sản để trả được nợ cho ngân hàng chúng tôi cũng đồng ý giao toàn bộ tài sản của chúng tôi tạo lập để trả nợ cho ngân hàng.
3.2. Ông Trần Anh H và bà Hồ Thị Kim T1 trình bày:
Tôi (Trần Anh H) là con ruột của bà D còn bà Hồ Thị Kim T1 là còn dâu của bà D. Mẹ chúng tôi (bà D) có xây dựng 01 căn nhà để làm kho diện tích ngang 5m, dài 35m trên thửa đất 298, tờ 30, diện tích 1,096m² tại Cư Ê, thành phố B. Năm 2010 chúng tôi không có nhà để ở nên mẹ chúng tôi cho vợ chồng tôi ở nhưng cho bằng miệng, không có giấy tờ gì. Khi ở thì chúng tôi đã tu bổ và sửa lại nhà để ở cho đến nay. Khi mẹ chúng tôi thế chấp toàn bộ tài sản trên để vay tiền tại ngân hàng thì chúng tôi không biết, khi Tòa án xuống nhà mẹ tôi làm việc thì chúng tôi mới biết. Gia đình chúng tôi đã xin ngân hàng cho thời chậm nhất đến ngày 10/9/2024 sẽ bán tài sản trả nợ cho ngân hàng nhưng đến nay gia đình chúng tôi cũng chưa bán được tài sản để trả nợ cho ngân hàng. Chúng tôi đồng ý với ý kiến của mẹ chúng tôi, nếu gia đình tôi không bán được tài sản để trả nợ cho ngân hàng thì chúng tôi cũng đồng ý giao toàn bộ tài sản của chúng tôi tạo lập để trả nợ cho ngân hàng. Đối với hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa ngân hàng N1 và mẹ tôi thì vợ chồng tôi không có ý kiến và không có yêu cầu độc lập.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến nay Hội đồng xét xử, thẩm phán, thư ký và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1: Buộc bà Trần Thị D phải trả Ngân hàng N1 số nợ gốc: 4.000.000.000 đồng và lãi suất phát sinh theo quy định của pháp luật. Trường hợp bà D không trả được nợ thì đề nghị xử lý toàn bộ tài sản đang thế chấp là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BT883149 do UBND thành phố B cấp ngày 20/04/2015 đối với thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30, diện tích đất: 1.096 m², địa chỉ đất: Thôn B, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk của bà Trần Thị D để thu hồi nợ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định.
[1].Về thủ tục tố tụng: Bà Trần Thị Uyên C vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai nhưng không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ tranh chấp và Thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn khởi kiện buộc bị đơn phải trả tiền theo hợp đồng tín dụng đã được ký kết nên xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 3 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về nội dung vụ án:
[3.1].Về số tiền vay: Căn cứ Hợp đồng tín dụng số: 5201-LAV-202300190 ngày 18/04/2023 và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ số 5201-LDS-2023 00437 ngày 18/04/2023, lời khai của các bên đương sự thể hiện: Ngày 18/04/2023 bà Trần Thị D có ký kết hợp đồng tín dụng với ngân hàng N1, chi nhánh thành phố B để vay số tiền 4.000.000.000 đồng (Bốn tỷ đồng), mục đích vay: kinh doanh tạp hóa; Thời hạn vay vốn: 12 tháng (ngày đến hạn 18/02/2024); lãi suất 10,5%/năm, thời hạn trả tiền lãi định kỳ trả lãi 03 tháng/01 kỳ vào ngày 18 hàng tháng.
Từ khi vay đến ngày 26/9/2023 bà D mới đã trả được cho ngân hàng số tiền lãi suất 107.013.699 đồng nhưng sau đó bà D không trả cho ngân hàng số tiền lãi suất nào nữa và khoản vay đã quá hạn từ ngày 18/10/2023. Như vậy, Bà D đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ lãi định kỳ trả lãi 03 tháng/01 kỳ vào ngày 18 hàng tháng theo Điều 1 và Điều 6 của hợp đồng tín dụng và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết. Hiện nay bà D cũng đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc. Vì vậy ngân hàng khởi kiện yêu cầu buộc bà D phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc 4.000.000.000 đồng và lãi suất phát sinh tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 618.637.854 đồng và lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với ý kiến của bà D xin ngân hàng xem xét miễn giảm lãi suất: Tại phiên tòa ngân hàng không đồng ý miễn, giảm lãi suất mà khi nào bà D thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng mới xem xét nên không có căn cứ miễn, giảm lãi cho bà D.
[3.2]. Xét, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 201119/88/HĐTC ngày 20/11/2019; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 270421/88/VBSÐ ký ngày 27/04/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 140422/88/HĐSĐ ký ngày 14/04/2022, giữa bà Trần Thị D và ngân hàng N1 chi nhánh thành phố B, Bắc Đ đối thửa đất: 298; Tờ bản đồ số: 30; diện tích đất: 1.096 m²; mục đích sử dụng đất: Đất ở 225m², Đất trồng cây hàng năm khác 871m²; Thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm khác: 15/10/2063; Địa chỉ đất: Thôn B, Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk được UBND thành phố B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BT883149 ngày 20/04/2015 mang tên Trần Thị D đã được công chứng, chứng thực và đăng ký giao dịch bảo đảm nên hợp đồng thế chấp trên hợp pháp.
Khi nào Bà Trần Thị D thanh toán hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BT883149 do UBND thành phố B cấp ngày 20/04/2015; Thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30; Diện tích đất: 1.096 m²; Mục đích sử dụng đất: Đất ở 225m², Đất trồng cây hàng năm khác 871m²; Thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm khác đến ngày 15/10/2063; Địa chỉ đất: Thôn B, Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho bà Trần Thị D.
Nếu bà Trần Thị D không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 201119/88/HĐTC ngày 20/11/2019; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 270421/88/VBSĐ ký ngày 27/04/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 140422/88/HĐSĐ ký ngày 14/04/2022 thì ngân hàng có quyền đề nghị Chi Cục thi hành án Dân sự thành phố Buôn Ma Thuột phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3.3]. Đối với tài sản khác trên đất: Bao gồm 01 căn nhà cấp 4 của ông Lê Tiến D1 và bà Trần Thị Uyên C diện, tích 120m² và 01 căn nhà cấp 4 diện tích 175m² hiện nay ông Trần Anh H và bà Hồ Thị T1 đang ở trên thửa đất 298, tờ 30, diện tích 1,096m² tại Cư Ê, thành phố B. Hiện nay các ông bà khai do bà D tặng cho bằng miệng, không giấy tờ gì và nếu bà D không trả được nợ cho ngân hàng thì các ông bà đều đồng ý giao toàn bộ đất và tài sản gắn liền trên đất để cho ngân hàng phát mãi thu hồi nợ, chứ không có yêu cầu gì trong vụ án là phù hợp nên cần chấp nhận.
Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1. Buộc bà Trần Thị D phải trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền 4.618.637.854 đồng. Trong đó nợ gốc 4.000.000.000 đồng và lãi suất phát sinh tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 618.637.854 đồng và bà D phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ. Thời hạn trả ngày 30/9/2024.
[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Trần Thị D phải chịu án phí Dân sự sơ thẩm nhưng bà Trần Thị D là người cao tuổi (72 tuổi) có đơn xin miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà D.Trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[5]. Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị D phải chịu 2.000.000đồng chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Trả lại cho Ngân hàng N1 2.000.000đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ bà Trần Thị D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 26; Khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 144, 147, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N1.
- Buộc bà Trần Thị D phải trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền nợ là: 4.618.637.854 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm mười tám triệu, sáu trăm ba mươi bày ngàn, tám trăm năm mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc 4.000.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 618.637.854 đồng. Bà Trần Thị D phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ. Thời hạn nợ trả ngày 30/9/2024.
- Về tài sản thế chấp: Khi nào Bà Trần Thị D thanh toán hết khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng thì Ngân hàng có trách nhiệm trả lại: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất: Số BT883149 do UBND thành phố B cấp ngày 20/04/2015; Thửa đất số: 298; Tờ bản đồ số: 30; Diện tích đất: 1.096 m²; Mục đích sử dụng đất: Đất ở 225m², Đất trồng cây hàng năm khác 871m²; Thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm khác đến ngày 15/10/2063; Địa chỉ đất: Thôn B, Xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk cho bà Trần Thị D. Nếu bà Trần Thị D không trả được nợ thì tài sản đã thế chấp tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 201119/88/HĐTC ngày 20/11/2019; Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 270421/88/VBSĐ ký ngày 27/04/2021; Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp số 140422/88/HĐSĐ ký ngày 14/04/2022 thì ngân hàng có quyền đề nghị Chi Cục thi hành án Dân sự thành phố Buôn Ma Thuột phát mãi tài sản theo quy định của pháp luật để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về án phí Dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị D được miễn án phí. Trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí là 56.099.344 đồng do ông Trần Quang H1 đã nộp theo biên lai số 0005215 ngày 24/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Buôn Ma Thuột.
- Về chi phí tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị D phải chịu 2.000.000đồng chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Trả lại cho Ngân hàng N1 số tiền 2.000.000đồng chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ sau khi thu được từ bà Trần Thị D.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản bán được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 209/2024/DS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 209/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. 1. Buộc bà Trần Thị Dung phải trả cho Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam tổng số tiền nợ là: 4.618.637.854 đồng (Bốn tỷ, sáu trăm mười tám triệu, sáu trăm ba mươi bày ngàn, tám trăm năm mươi bốn đồng). Trong đó nợ gốc 4.000.000.000 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 10/9/2024 là 618.637.854 đồng. Bà Trần Thị Dung phải tiếp tục chịu lãi suất phát sinh theo hợp đồng tín dụng và báo cáo đề xuất giải ngân kiêm giấy nhận nợ đã ký kết kể từ ngày 11/9/2024 cho đến khi thanh toán xong hết khoản nợ.
