Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/DS-PT
Ngày: 09/5/2024
V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nam
Bà Phạm Ngọc Giàu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 91/2024/TLPT-DS, ngày 22 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 155/2024/QĐ-PT ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: 1/ Anh Tạ Duy P, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

2/ Chị Vũ Ngọc M, sinh năm: 1981; địa chỉ: DL, phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ liên hệ: Tổ 14, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T –Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Thanh H thuộc đoàn luật sư tỉnh T.

- Bị đơn: 1/ Anh Nguyễn Minh T1, sinh năm 1969;

2/ Chị Đặng Thị Thanh X, sinh năm: 1969;

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần B; Địa chỉ: Tòa nhà H N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: ông Ngô Quang T2 – chức vụ Tổng giám đốc; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đình A- chức vụ giám đốc Trung tâm Quản lý và thu hồi nợ; Địa chỉ liên lạc: E L, Phường G, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Ủy quyền lại cho ông Lý Thành T3; nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần B – Chi nhánh T6; Địa chỉ: 3 đường C, phường C, Thành phố T, tỉnh Tây Ninh (có đơn yêu cầu vắng mặt).

Người kháng cáo anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 31-12-2021, của nguyên đơn anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M quá trình giải quyết vụ án trình bày:

Năm 2013, vợ chồng anh P, chị M sinh sống cùng cha là Tạ Duy K, sinh năm 1954 và mẹ là Lê Thị Ngọc T4, sinh 1956 - mất 2020 có tổng diện tích 514 m², thửa đất số 138, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại Tổ A, ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh (theo giấy chứng nhận số H 00007/474/2004/QĐ-CT(HL) do UBND huyện G cấp ngày 22-02-2005) do ông Tạ Duy K đứng tên. Đến năm 2018, vợ chồng anh P, chị M được cha, mẹ tặng cho phần đất trên và đổi sang sổ mới diện tích còn lại 419,2 m² thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ 39 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 có tứ cận đất không biết nhưng có giáp ranh với đất của Anh L, chị N) và anh T1, chị X đã lấn đất của gia đình anh.

Trong quá trình sử dụng đất thì gia đình hai bên không có cấm trụ xây hàng rào làm ranh giữa các bên. Do gia đình bên nhà anh T1, anh L cho nước thải ra đất nhà của cha mẹ anh, nên ba mẹ của anh P đã xây chân tường gạch cao 20cm loại gạch thẻ, lót gạch mới, xây dựng vào khoảng năm 2017-2018 mục đích là chừa một phần đất trống để làm đường thoát nước phần tranh chấp với anh T1 và chị X. Hiện trạng chân tường đã xây hiện nay vẫn còn. Quá trình sử dụng đất giữa các bên anh P từ trước khi được tặng cho thì giữa các bên không có làm hàng rào định ranh, khi gia đình anh T1 xây dựng phía gia đình anh không ngăn cản, không phản đối, lý do anh P, chị M không xác định được ranh đất giữa các bên đến vị trí nào.

Đến năm 2020, phía gia đình anh T1, chị X thực hiện thủ tục cấp mới quyền sử dụng đất nên gia đình anh phát hiện gia đình anh T1, chị X đã lấn và sử dụng diện tích 3,2 m². Hiện trạng đất lấn có xây dựng một tolet, một bồn nước. Sau khi đo đạc lại anh P chị M mới biết gia đình anh T1, chị X lấn đất và khởi kiện, thống nhất kết quả đo đạc, kiểm tra hiện trạng đất, định giá tài sản, không yêu cầu định giá lại.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh P chị M không đồng ý trình bày lại yêu cầu khởi kiện, cho rằng giữa các bên không có ranh, lý do khởi kiện là đất anh được cấp quyền sử dụng đất đến vị trí nào thì phía gia đình anh T1 phải trả lại cho anh gia đình anh. Theo nội dung khởi kiện ban đầu: yêu cầu anh T1, chị X trả lại diện tích đất 3,2 m² thuộc một phần thửa đất số 3, tờ bản đồ số 39 ấp C, xã C do anh P và chị M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018, nhưng theo sơ đồ đất là 4,1 m² và anh P, chị M yêu cầu anh T1, chị X phải trả lại 4,1 m²; yêu cầu anh T1, chị X phải đập hoặc di dời 01 một tolet xây dựng trên đất để trả lại diện tích đất cho gia đình anh T1, chị X.

* Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Minh T1, chị Đăng Thị Thanh X1 trình bày:

Phần diện tích nhà đất hiện anh T1, chị X1 đang quản lý sử dụng thuộc thửa đất số 245, bản đồ số 10, tổng diện tích 352,4 m² được Sở Tài Nguyên và Môi trường cấp quyền sử dụng đất số H 00048/38/2007/HĐ-CN (Hl) ngày 08-8-2007 có nguồn gốc được ông Nguyễn Văn R (cha ruột anh T1) tặng cho từ năm 1994, trong đó có phần giáp với đất của gia đình ông K – cha của anh P (hướng Tây và hướng N1). Cùng sinh sống chung nhà với ông R từ trước năm 1975. Năm 2005 ông R kê khai đăng ký và được cấp quyền sử dụng đất. Năm 2007, ông R chia đất cho 03 người con là Nguyễn Thị N2, Nguyễn Văn T5 và Nguyễn Thái M1.

Anh T5, chị X1 ở trên căn nhà ông R xây dựng từ trước 1975 cho đến hiện nay. Ranh đất thể hiện giữa nhà đất ông K với gia đình anh là ông K tự xây hàng rào làm ranh tại vị trí chân tường gạch làm mương thoát nước, nhưng ông R ngăn cản, không cho xây dựng và có đơn gửi UBND xã C năm 2000, được UBND xã C tổ chức cấm mốc (bao gồm UBND và công an, trưởng ấp) thực hiện đóng cọc xây móng 20 cao 05 tất đến hiện nay vẫn còn. Năm 2021, ông K cắm trụ rào tại vị trí theo cập ranh hàng rào, gia đình ông ngăn cản, nên UBND xã cho cắm trụ ranh hàng rào phía bên trong đất của ông Tạ Văn K1, Khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, thì gia đình anh P đã tự ý gỡ lưới, rào, đập trụ, gia đình anh có báo đến công an xã và được công an xã mời làm việc, ngoài ra anh P còn ngang nhiên qua nhà anh T5 đập phá hoại tài sản gồm đường ống dẫn nước đang sử dụng. Sự việc được chính quyền địa phương được tổ chức hòa giải, anh P đồng ý sữa chữa mua ống nước thay lại cho gia đình anh. Ranh hiện nay vẫn còn là chân trụ rào, chân tường. Anh T5, chị X1 xác định hàng rào ranh đất đã có trước khi gia đình hai bên được cấp quyền sử dụng đất. Theo kết quả đo đạc bị đơn không có ý kiến, không yêu cầu đo đạc và định giá lại. Về hiện trạng diện tích đất tranh chấp anh T5, chị X1 xác định nhà vệ sinh không nằm trong diện tích tranh chấp.

Phía bị đơn không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Tòa án xem xét cho gia đình anh T5, chị X1 được tiếp tục quản lý sử dụng diện tích đất tranh chấp trên.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên qua ngân hàng B trình bày:

Ngày 13-8-2020, ngân hàng ký hợp đồng cho vay số 0172000070200, đến ngày 13-8-2027 đến hạn, số tiền vay vốn 400.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn mua bán tạp hóa, mức lãi suất 12,5 %/năm, hình thức trả vào ngày 15 hàng tháng số tiền trả gốc: 4.800.000 đồng kèm theo lãi phát sinh. Tài sản thế chấp là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: giấy CNQDĐ số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018diện tích 419,2 m² thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ 39 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp quyền sử dụng đất. Anh P và chị M thế chấp tài sản là quyền sư dụng đất là hợp pháp, mong bảo đảm quyền lợi cho Ngân Hàng. Về số tiền nợ, anh P và chị M không vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng không tiến hành thủ tục khởi kiện đối với khách hàng.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 05/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

1. Không Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M đối với anh Nguyễn Minh T1, chị Đặng Thị Thanh X về việc yêu cầu anh T1, chị X trả lại diện tích tranh chấp 4,1m² thuộc phần đất thửa số 03, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 do anh P, chị M đứng tên.

1.1 Anh Nguyễn Minh T1 và chị Đặng Thị Thanh X được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất 4,1 m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 39 tọa lạc ấp C, xã C có tứ cận Đông giáp thửa 181 dài 0 m; Tây giáp thửa 02 dài 0,97m; Nam giáp thửa 03 dài 7,92; Bắc giáp thửa 245 dài 7,96 m.

1.2. Anh T1, chị X có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục thu hồi diện tích 4,1 m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 39 tọa lạc ấp C, xã C có tứ cận Đông giáp thửa 181 dài 0m; Tây giáp thửa 02 dài 0,97m; Nam giáp thửa 03 dài 7,92m; Bắc giáp thửa 245 dài 7,96m theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 cho phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng đất được xác định tại Bản án theo quy định của pháp luật đất đai.

(Có sơ đồ đất kèm theo)

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/01/2024 anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh P, chị M.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo .

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh P trình bày: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T1, chị X hướng Tây dài 11,14m trong đó hiện trạng đo đạc là 12,06m dư 0,92m. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh P hướng Tây dài 16,56m, hiện trạng đo đạc là 15,24m thiếu 1,32m. Như vậy anh T1, chị X có lấn đất của anh P, chị M.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Ngọc M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt chị M là phù hợp với quy định khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của anh P, chị M thấy rằng:

[2.1] Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Năm 2018, vợ chồng anh P, chị M được cha là ông Tạ Duy K, sinh năm 1954 và mẹ là Lê Thị Ngọc T4, sinh 1956-mất 2020 tặng cho phần đất có tổng diện tích 514 m², thửa đất số 138, tờ bản đồ số 10 (theo giấy chứng nhận số H 00007/474/2004/QĐ-CT(HL) do UBND huyện G cấp ngày 22-02-2005) đã đổi sang sổ mới do hai vợ chồng đứng tên có diện tích 419,2 m² thuộc thửa đất số 3 tờ bản đồ 39 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018.

[2.2] Xét kháng cáo của anh P, chị M thấy rằng:

Phần đất tranh chấp có diện tích 4,1m² tọa lạc ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh. Hiện trạng phần đất tranh chấp gia đình ông K đã tiến hành xây dựng móng chân tường 20cm, cao 5 tấc, trụ sắt cắm phía bên nhà của anh P, hiện nay ranh này vẫn còn, mục đích xây dựng là để chống tràn nước, chừa đất để cho gia đình bà N2 thoát nước, phía anh T1, chị X có xây dựng một tolet, một bồn nước.

Hội đồng xét xử xét thấy các bên đương sự đã tự phân ranh, sử dụng ổn định, lâu dài trên 30 năm, việc cấp đổi giấy chứng nhận do có thay đổi, biến động ranh giữa các bên nên xảy ra tranh chấp.

Mặt khác, theo biên bản hòa giải anh P thừa nhận đã ký tứ cận đất, xác nhận ranh và cam kết không tranh chấp với gia đình anh T1. Đồng thời, theo hiện trạng đo đạc đất gia đình anh P sử dụng diện tích đất 459,7 m² là nhiều hơn diện tích được cấp quyền sử dụng đất 401,3 m².

Từ các nhận định trên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ đúng pháp luật.

Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình.

Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn không phù hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

[3] Về án phí: Do kháng cáo của Anh Tạ Duy P và chị Vũ Ngọc M không được chấp nhận, nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M.

- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2024/DS-ST ngày 25 tháng 01 năm 2024, của Toà án nhân dân huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ vào Điều 166 của Bộ Luật Dân sự năm 2015; các Điều 100, 106, 166 và 203 của Luật Đất đai năm 2013 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M đối với anh Nguyễn Minh T1, chị Đặng Thị Thanh X về việc yêu cầu anh T1, chị X trả lại diện tích tranh chấp 4,1m² thuộc phần đất thửa số 03, tờ bản đồ số 39, tọa lạc tại ấp C, xã C, huyện G, tỉnh Tây Ninh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CM 309218, số vào sổ cấp GCN: CS03256 ngày 27-02-2018 do anh P, chị M đứng tên.

1.1 Anh Nguyễn Minh T1 và chị Đặng Thị Thanh X được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích đất 4,1 m² thuộc thửa đất số 03, tờ bản đồ số 39 tọa lạc ấp C, xã C có tứ cận Đông giáp thửa 181 dài 0m; Tây giáp thửa 02 dài 0,97m; Nam giáp thửa 03 dài 7,92m; Bắc giáp thửa 245 dài 7,96 m.

1.2. Anh T1, chị X có quyền, nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục điều chỉnh diện tích 4,1 m² cho phù hợp với hiện trạng thực tế sử dụng đất được xác định tại Bản án theo quy định của pháp luật đất đai.

(Có sơ đồ đất kèm theo)

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Anh P, chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 00024766 ngày 18-10-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Anh P, chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về chi phí tố tụng: Anh P, chị M phải chịu tiền chi phí tố tụng 18.800.000 đồng (ghi nhận đã nộp).

4 . Về án phí dân sự phúc thẩm:

Anh Tạ Duy P, chị Vũ Ngọc M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh P, chị M đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0013632 ngày 25/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh P, chị M đã nộp xong.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND huyện Gò Dầu;
  • - CCTHADS huyện Gò Dầu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/DS-PT ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 209/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger