Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 209/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07/6/2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Ngọc Ánh.
  2. Ông Trương Hoàng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang: Ông Phạm Minh Thanh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Đinh Thị Khánh P, sinh năm 1985;
  • Địa chỉ: Ấp L, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn An B, sinh năm 1984;
  • Địa chỉ: Ấp L, xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
  • (Bà P, ông B có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*. Theo Đơn khởi kiện và bản tự khai, bà Đinh Thị Khánh P trình bày:

Bà và ông Nguyễn An B tự nguyện cưới nhau vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang vào ngày 02/3/2011. Thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp nên thường xuyên cãi vả, ông bà đã ly thân từ tháng 07 năm 2023 đến nay. Nay tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Nay bà yêu cầu Toà án giải quyết:

  • - Về hôn nhân: Yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn An B.
  • - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 23/9/2012. Khi ly hôn, bà P yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu ông B cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại bản tự khai và biên bản hoà giải lập ngày 21/5/2024, bị đơn ông Nguyễn An B trình bày:

Ông có ý kiến không đồng ý ly hôn do ông còn thương vợ và gia đình. Trong trường hợp Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông đồng ý giao con chung là cháu Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 23/9/2012 cho bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con chung.

* Bà Đinh Thị Khánh P và ông Nguyễn An B có đơn yêu cầu Toà án xét xử vắng mặt do bận công việc.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu:

  • - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về việc giải quyết vụ kiện: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy việc bà Đinh Thị Khánh P và ông Nguyễn An B có mâu thuẫn kéo dài không hàn gắn được nên việc bà P yêu cầu ly hôn với ông B và yêu cầu được nuôi dưỡng con chung; không yêu cầu cấp dưỡng; về tài sản chung và nợ chung không có, là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà P.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp “Ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.

[2] Về sự có mặt của đương sự: Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định, ông Nguyễn An B và bà Đinh Thị Khánh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do đó Toà án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Khánh P và ông Nguyễn An B là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.

[4] Về thực trạng hôn nhân: Quá trình tố tụng, bà P trình bày, ông bà kết hôn tự nguyện và sống hạnh phúc đến khoảng năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hoà hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vả và ông bà đã ly thân từ tháng 7 năm 2023 đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn ông B.

[5] Về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày của đương sự và căn cứ giải quyết vụ án:

Quá trình tố tụng, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định, ông Nguyễn An B có văn bản ý kiến không đồng ý ly hôn do ông còn thương vợ con và có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. HĐXX xét thấy: Bà P và ông B đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và đã ly thân từ tháng 07 năm 2023. Từ đó cho đến nay, bà P và ông B không tìm được tiếng nói chung để giải quyết mâu thuẫn. Ông B cho rằng còn tình cảm với bà P nhưng không đưa ra được biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, bà P giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, không đồng ý hàn gắn đoàn tụ. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa bà P và ông B có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ly hôn là biện pháp tốt nhất để trả tự do cho cả hai. Vì vậy, bà P yêu cầu được ly hôn với ông B là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

- Về con chung: Ông bà có một con chung là cháu Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 23/9/2012; Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu N đang được bà P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng rất tốt, đồng thời ông B cũng có ý kiến trong trường hợp ly hôn ông đồng ý để bà P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung (BL 27). Vì vậy, yêu cầu của bà P được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu N là có cơ sở và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con, bà P không yêu cầu nên không đặt ra để xem xét giải quyết.

Ông B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà P và ông B thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét trong vụ án.

[5] Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Bà Đinh Thị Khánh P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị Khánh P.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đinh Thị Khánh P được ly hôn với ông Nguyễn An B.
  2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Bình Phương N, sinh ngày 23/9/2012 cho bà Đinh Thị Khánh P tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng, ông B không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

    Ông B có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung sau này, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  5. Về án phí: Bà Đinh Thị Khánh P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Bà P đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007357 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, xem như đã nộp xong.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo;
  • - UBND xã Quơn Long;
  • - Đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về ly hôn

  • Số bản án: 209/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà P yêu cầu ly hôn ông B
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger