|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI Bản án số: 209/2025/HSST Ngày 28 tháng 11 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hoài Ph
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Bá X
- Bà Phạm Thị Kim D
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang H - Cán bộ Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Đ - Kiểm sát viên.
Ngày 28/11/2025, Tòa án nhân dân Khu Vực 1 - Hà Nội tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 190/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 426/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, đối với:
-
Bị cáo Phạm Đức M, sinh năm: 2005; HKTT: TDP L, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: không; Họ và tên bố: Phạm Văn H – sinh năm 1974; Họ và tên mẹ: Lê Thị V – sinh năm 1979. Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai. D chỉ bản 3600 lập ngày 01/08/2025 tại PC 11 A - Công an thành phố H.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 25/07/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
-
Bị cáo Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 2006; HKTT: TDP T, phường H, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn V1 – sinh năm 1966; Họ và tên mẹ: Lê Thị T – sinh năm 1967. Gia đình bị cáo có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. D chỉ bản 3662 lập ngày 01/08/2025 tại PC 11 A - Công an thành phố H.
Tiền án, tiền sự: Chưa.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ ngày 25/07/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Phạm Huyền T1, sinh năm: 2001; Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường H, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phan Đức M1 đến ở cùng Nguyễn Văn Đ tại nơi Đ thuê ở tại phòng 404, tầng 4 nhà số C ngõ B T, phường K, thành phố Hà Nội. Ngày 22/7/2025, do cần tiền chi tiêu cá nhân, M1 và Đ cùng bàn bạc nhau góp tiền mua ma túy (TOBACO) trên mạng xã hội về bán lại để hưởng lợi. M1 góp 1.100.000 đồng, Đ góp 400.000 đồng, tổng cộng là 1.500.000 đồng. Sau đó, M1 lên mạng xã hội tìm và đặt mua của một đối tượng không quen biết 1.500.000 đồng tiền ma túy loại TOBACO. Khi số ma túy này được chuyển đến nơi ở tại số C ngõ B T, phường K, thành phố Hà Nội. M1 đưa cho Đ số tiền mà cả hai cùng góp 1.500.000 đồng để Đ trực tiếp xuống nhận ma túy và trả cho người giao ma túy. Sau khi mua được ma túy loại TOBACO là 01 túi nilon chứa thảo mộc khô, M1 chia nhỏ túi ma túy ra thành 09 túi nilon kích thước (5x7)cm với mục đích bán lại để hưởng lợi. Qua mạng xã hội, M1 đăng bài tìm người mua ma túy TOBACO. Tối ngày 24/7/2025, có đối tượng nữ giới sử dụng tài khoản facebook “Anz Dunz” nhắn tin cho M1 hỏi mua ma túy TOBACO, hai bên thỏa thuận giá của 02 túi ma túy TOBACO là 400.000 đồng kèm thêm tiền công mang ma túy đến địa chỉ nhận ma túy tại số F ngõ D X, phường T, Hà Nội là 100.000 đồng. Sau đó, M1 cầm 02 túi nilon trên tay trái và bảo Đ dùng xe máy BKS:36C1 -574.69 của M1 chở đi đến ngõ D X, phường T, Hà Nội để giao ma túy cho đối tượng sử dụng tài khoản facebook “Anz Dunz”.
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 24/7/2025, tổ Công tác Công an phường T, thành phố Hà Nội tiến hành tuần tra tại Khu vực trước nhà số F ngõ D X, phường T, Hà Nội phát hiện Nguyễn Văn Đ điều khiển xe máy BKS:36C1 -574.69 chở Phạm Đức M ngồi sau đang dừng đỗ xe có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, Phạm Đức M tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 túi nilon màu trắng kích thước (5x7)cm bên trong chứa thảo mộc khô (M và Đ khai nhận là ma túy TOBACO đang mang đi bán cho khách). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tang vật và đưa M và Đ về trụ sở Công an phường T để điều tra làm rõ.
Tang vật thu giữ :
- + 02 túi nilon màu trắng kích thước khoảng 5x7cm bên trong chứa thảo mộc khô;
- + 01 xe máy SH Mode BKS: 36C1 -574.69;
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng, bên trong có 01 thẻ sim 4G (thu giữ của Phạm Đức M)
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ tại địa chỉ phòng D, tầng D, nhà số C ngõ B T, phường K, thành phố Hà Nội, cơ quan điều tra phát hiện thu giữ 07 túi nilon bên trong chứa thảo mộc khô (Đ và M khai là ma túy TOBACO tàng trữ nhằm mục đích để bán).
Tại Bản kết luận giám định số 4427/KL-KTHS ngày 03/08/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
“Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilông đều có ma túy loại MDMB- INACA và ma túy loại MDMB -4en -PINACA, tổng khối lượng 3,250 gam”.
Tại Bản kết luận giám định số 4513A ngày 05/08/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H kết luận:
Thảo mộc khô bên trong 07 túi nilông đều có ma túy loại MDMB- INACA và ma túy loại MDMB -4en -PINACA, tổng khối lượng 31,551 gam”.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Đối với đối tượng sử dụng tài khoản “Anz Dunz” mua ma túy của Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ, cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát tại ngõ D X, phường T, Hà Nội không có ai là nữ giới sử dụng tài khoản mạng xã hội M2 là “Anz Dunz". Do M và Đ không biết tên, tuổi, địa chỉ của đối tượng này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ để xử lý.
Đối với anh Trần Văn G, quá trình điều tra xác định anh G không biết việc Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong nhà trọ của mình nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với 01 chiếc xe máy SH Mode, BKS: 36C1-574.69, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định đối với số khung, số máy của chiếc xe, xác định số không số máy của chiếc xe là nguyên thủy. Tiến hành xác minh xác định chủ sở hữu của chiếc xe là chị Phạm Huyền T1. Chị T1 trình bày việc M lấy chiếc xe của chị sử dụng vào việc mua bán trái phép chất ma túy, chị T1 không biết.
Tại bản Cáo trạng số 126/CT-VKS ngày 30/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 đã truy tố các bị cáo Phạm Đức M và Nguyễn Văn Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa: các bị cáo Phạm Đức M và Nguyễn Văn Đ đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra, Bị cáo M và Đ thừa nhận bản cáo trạng truy tố đúng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Phạm Huyền T1 đề nghị được nhận lại chiếc xe máy SH Mode, BKS: 36C1-574.69.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội giữ quan điểm truy tố đối với các bị cáo Phạm Đức M và Nguyễn Văn Đ theo tội danh và điều luật đã viện dẫn tại Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025 xử phạt:
Bị cáo Phạm Đức M mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ mức án từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy 3,250 gam ma túy loại MDMB- INACA và ma túy loại MDMB - 4en -PINACA và 31,551 gam ma túy loại MDMB- INACA và ma túy loại MDMB - 4en -PINACA;
Tịch thu của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động Iphone 13 màu hồng bên trong có 01 thẻ sim 4G.
Trả lại cho chị Phạm Huyền T1 01 chiếc xe máy SH Mode, BKS: 36C1-574.69.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không tranh luận gì với kết luận của đại diện Viện kiểm sát về tội danh và mức hình phạt.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo M và bị cáo Đ nhận thấy hành vi mua bán trái phép chất ma tuý để bán kiếm lời của các bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo trong hồ sơ vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 24/07/2025, tại trước nhà số F ngõ D X, phường T, Hà Nội, Phạm Đức M và Nguyễn Thành Đ1 có hành vi mua bán trái phép 3,250 gam ma túy TOBACO có chứa loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en - PINACA và tàng trữ 31,551 gam ma túy loại TOBACO có chứa loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en - PINACA mục đích để bán kiếm lời, tổng khối lượng ma túy Phạm Đức M và Nguyễn Văn Đ mua bán là 34,801 gam thì bị Tổ công tác Công an phường T phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi mua bán bất hợp pháp chất ma túy của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy. Các bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy được tác hại của hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Hành vi của các bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025. Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Hà Nội truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Ma túy là hiểm họa lớn cho xã hội, là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác, các bị cáo đều là sinh viên đại học biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình vi phạm. Các bị cáo có vai trò ngang nhau do đó cần thiết xét xử các bị cáo nghiêm minh với mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự :
Bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về giảm nhẹ trách nhiệm hình sự :
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Đức M và Nguyễn Văn Đ thể hiện thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án tiền sự; bị cáo Phạm Đức M có ông ngoại là người có công với Cách M3 nên áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo theo quy định tại Khoản 6 Điều 251 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
[7]. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ và các thành phần tham gia niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 24/07/2025, dấu đỏ của cơ quan Công an phường T ( bên trong là 01 túi nilong chứa ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en – PINACA, khối lượng còn lại sau khi giám định). Theo Kết luận giám định số 4427/KL-KTHS ngày 03/08/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong của Công an phường T và các biên bản đóng gói niêm phong ngày 25/7/2025 tại Phòng PC09- Công an thành phố H.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ và các thành phần tham gia niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 25/07/2025, dấu đỏ của cơ quan Công an phường T ( bên trong là 01 túi nilong chứa ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en – PINACA, khối lượng còn lại sau khi giám định). Theo Kết luận giám định số 4573A/KL-KTHS ngày 05/08/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong của Công an phường T và các biên bản đóng gói niêm phong ngày 26/7/2025 tại Phòng PC09- Công an thành phố H.
- - Trả lại cho chị Phạm Huyền T1 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda SH Model màu trắng, BKS: 36C1-574.69 đã qua sử dụng, có số khung : RLHJK010XPZ201732 và số máy: JK01E -0499292 (Theo Kết luận giám định số 5690/KL – KTHS ngày 08/09/2025 của Phòng K - Công an thành phố H).
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng, không có imei in ngoài vỏ máy, bên trong có 01 thẻ sim 4G, mã số in trên thẻ sim là 09840 48000 91356 8364.
[8]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Đức M và bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
[1] Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025
Xử phạt:
-
Bị cáo Phạm Đức M 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/07/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/07/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ và các thành phần tham gia niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 24/07/2025, dấu đỏ của cơ quan Công an phường T ( bên trong là 01 túi nilong chứa ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en – PINACA, khối lượng còn lại sau khi giám định). Theo Kết luận giám định số 4427/KL-KTHS ngày 03/08/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong của Công an phường T và các biên bản đóng gói niêm phong ngày 25/7/2025 tại Phòng PC09 - Công an thành phố H.
- - Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bao niêm phong, dán kín các mép có chữ ký của bị cáo Phạm Đức M, Nguyễn Văn Đ và các thành phần tham gia niêm phong theo biên bản niêm phong ngày 25/07/2025, dấu đỏ của cơ quan Công an phường T ( bên trong là 01 túi nilong chứa ma túy loại MDMB - INACA và ma túy loại MDMB - 4en – PINACA, khối lượng còn lại sau khi giám định). Theo Kết luận giám định số 4573A/KL-KTHS ngày 05/08/2025 của Phòng K - Công an Thành phố H và các biên bản tạm giữ, niêm phong của Công an phường T và các biên bản đóng gói niêm phong ngày 26/7/2025 tại Phòng PC09 - Công an thành phố H.
- - Trả lại cho chị Phạm Huyền T1 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda SH Model màu trắng, BKS: 36C1-574.69 đã qua sử dụng, có số khung: RLHJK010XPZ201732 và số máy: JK01E -0499292 (Theo Kết luận giám định số 5690/KL – KTHS ngày 08/09/2025 của Phòng K - Công an thành phố H).
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu hồng, không có imei in ngoài vỏ máy, bên trong có 01 thẻ sim 4G, mã số in trên thẻ sim là 09840 48000 91356 8364.
Các vật chứng hiện đang lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 - nay là Phòng THADS Khu vực 1 theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 70/KV1-2025 ngày 26/11/2025.
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hoài P |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoài Phương |
Bản án số 209/2025/HSST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 209/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
