|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 209/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-06-2025 “V/v: Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Văn Cường |
| Ông Nguyễn Việt Cường |
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký TAND thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 328/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/04/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/05/2025, giữa:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị Kim C, sinh ngày 09/05/1999
Căn cước công dân số [...] do Cục C3 về TTXH cấp ngày 03/06/2022; Nơi thường trú và hiện ở: Tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Chị C có đơn xin vắng mặt.
Chị Lê Thị Kim Chi ủy Q cho chị Nguyễn Thị H, CCCD số [...] do Cục C3 về TTXH cấp ngày 16/09/2022 và anh Trần Mạnh C1, CCCD số [...] do Cục C3 về TTXH cấp ngày 25/04/2021 (Địa chỉ liên hệ: Số D T, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội) giao nộp và nhận các văn bản tố tụng của TAND thành phố Hà Nội. Chị H có đơn xin vắng mặt, anh C1 vắng mặt.
Bị đơn: Anh Lê Minh C2, sinh ngày 02/07/1999
Căn cước công dân số [...] do Cục C3 về TTXH cấp ngày 29/03/2024; Nơi thường trú: Thôn A, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội. Hiện ở: Nhật Bản. Anh C2 vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2024 và bản tự khai, nguyên đơn chị Lê Thị Kim C trình bày:
Về tình cảm: Tôi và anh Lê Minh C2 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 24/04/2024. Sau khi kết hôn, tôi và anh C2 có cuộc sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng sau một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chủ yếu là do tính cách của hai vợ chồng không hòa hợp, bất đồng về quan điểm trong cuộc sống. Sau đó, cuối tháng 5/2024 anh C2 quay lại làm việc tại Nhật Bản nên vợ chồng không có điều kiện được gần gũi, quan tâm, chia sẻ do đó mâu thuẫn hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng trầm trọng. Do khoảng cách xa xôi khiến vợ chồng chúng tôi không có điều kiện gần gũi, chia sẻ, quan tâm đến nhau. Vậy nên tình cảm vợ chồng chúng tôi ngày càng phai nhạt. Chúng tôi đã nhiều lần tìm cách nói chuyện, hàn gắn nhưng mâu thuẫn không cải thiện mà những mâu thuẫn vẫn tồn tại dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung. Do sống ly thân một thời gian dài nên hai chúng tôi gần như không thể hàn gắn được mâu thuẫn.
Thời gian gần đây, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng hai chúng tôi xảy ra thường xuyên hơn, ảnh hưởng đến cuộc sống, công việc của cả hai bên. Đã rất nhiều lần chúng tôi chủ động trao đổi để tìm cách giải quyết mâu thuẫn, gia đình cũng tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả.
Tôi đã nhiều lần làm việc, trao đổi với anh C2 để giải quyết thủ tục ly hôn, chấm dứt quan hệ hôn nhân đầy mâu thuẫn nhưng anh C2 không hợp tác, tỏ thái độ chống đối nhưng anh C2 cũng không có biện pháp nào để hàn gắn quan hệ tình cảm, tháo gỡ cuộc sống hôn nhân đã đổ vỡ. Khi tôi yêu cầu anh C2 cung cấp địa chỉ cụ thể ở Nhật Bản thì anh C2 không cung cấp. Nay nhận thấy hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích của hôn nhân trên thực tế không đạt được, nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lê Minh C2.
Về con chung: Tôi và anh Lê Minh C2 có 01 con chung là cháu Lê Nhật Q1, sinh ngày 07/06/2024. Hiện cháu Q1 đang sinh sống ổn định cùng tôi tại Tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ly hôn, tôi đề nghị Tòa án giao con chung cho tôi là Lê Thị Kim C trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành. Tôi không yêu cầu anh C2 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
* Theo bản tự khai ngày 09/12/2024 của bị đơn là anh Lê Minh C2 trình bày:
Về tình cảm: Tôi và chị Lê Thị Kim C kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 24/04/2024. Tôi vẫn còn tình cảm với vợ, hai vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng mà chỉ do mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu. Tôi mong muốn được đoàn tụ với vợ tôi để cùng nhau nuôi con nên tôi không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Tôi và chị Lê Thị Kim C có 01 con chung là cháu Lê Nhật Q1, sinh ngày 07/06/2024. Hiện cháu Q1 đang sinh sống với mẹ tại Tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nếu phải ly hôn, tôi đồng ý để cháu Q1 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, tôi sẽ có trách nhiệm thỏa thuận với vợ về tiền cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh C2 hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, không thể có mặt tại Tòa án để giải quyết ly hôn với chị C nên anh C2 đã có lời khai xin vắng mặt. Anh C2 ủy quyền cho bà Đào Thị H1 là mẹ đẻ của anh C2 nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Bà H1 đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và cam kết gửi cho anh C2 được biết thời gian giải quyết của Tòa án. Anh C2 đề nghị Tòa án gửi các thông báo cho anh qua hòm thư điện tử ************@gmail.com anh C2 sẽ nhận thông báo và trả lời qua hòm thư điện tử.
* Theo biên bản lấy lời khai ngày 03/03/2025, bà Đào Thị H1 - mẹ đẻ của anh C2 trình bày: Ngày 24/04/2024, anh C2 và chị Lê Thị Kim C đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã T. Anh chị được gia đình hai bên tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, anh chị sinh sống tại nhà bà ở T, T, Hà Nội. Quá trình chung sống của anh chị có xảy ra mâu thuẫn bà cũng không nắm rõ. Qua nói chuyện điện thoại với anh C2, anh C2 có nói với bà về việc vợ chồng có mâu thuẫn, anh C2 cũng muốn hòa giải để đoàn tụ. Tuy nhiên, nếu chị C vẫn cương quyết ly hôn thì anh C2 cũng chấp nhận. Anh C2 có ủy quyền cho bà để nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và bà cam kết gửi lại cho anh C2 biết. Bà chỉ biết hiện nay anh C2 đang lao động tại Nhật Bản còn địa chỉ cụ thể của anh C2 thì bà không biết. Anh chị có 01 con chung là cháu Lê Nhật Q1, sinh ngày 07/06/2024. Hiện tại, cháu Q1 đang ở với chị C và gia đình chị C. Về việc giao con cho ai nuôi dưỡng, bà không có ý kiến gì vì đây là con chung của anh C2 chị C, do anh chị thỏa thuận và do Tòa án giải quyết. Bà được biết hai anh chị không có tài sản chung và công nợ chung. Ngoài ra bà không có ý kiến gì khác.
* Tại phiên tòa:
- Chị Lê Thị Kim C có đơn xin giải quyết vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong các bản tự khai. Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, chị đồng ý nhận ủy quyền của chị C là giao, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Chị H cam kết sẽ có trách nhiệm gửi ngay để chị C được biết.
- Anh Lê Minh C2 có lời khai xin vắng mặt. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh C2 đã có bản tự khai về quan điểm ly hôn với chị Lê Thị Kim C. Bà Đào Thị H1 đồng ý nhận ủy quyền của anh C2 là nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Bà H1 cam kết sẽ có trách nhiệm gửi ngay để anh C2 được biết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Do anh Lê Minh C2 đang làm việc ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Lê Thị Kim C và anh Lê Minh C2 đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 24/04/2024. Xét cuộc sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân đã lâu, không có biện pháp giải quyết nên yêu cầu xin ly hôn của chị C là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Anh chị có 01 con chung là cháu Lê Nhật Q1, sinh ngày 07/06/2024. Hiện cháu Q1 đang sinh sống ổn định cùng chị C tại Tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ly hôn, chị C xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh C2 cấp dưỡng nuôi con chung, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí: Chị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết:
Chị Lê Thị Kim C có đơn xin ly hôn với anh Lê Minh C2 do khi Tòa án thụ lý vụ án, anh Lê Minh C2 đang sinh sống, làm việc tại Nhật Bản nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự:
Chị Lê Thị Kim C có đơn xin giải quyết vắng mặt. Khi thụ lý giải quyết vụ án, anh Lê Minh C2 sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Quá trình giải quyết vụ án, anh C2 đã nhận các thông báo của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, đã làm bản tự khai trình bày quan điểm tại Tòa án và xin vắng mặt. Anh C2 ủy quyền cho bà Đào Thị H1 là mẹ đẻ anh C2 giao nhận các văn bản tố tụng của Tòa án. Bà H1 đồng ý nhận ủy quyền của anh C2. Do vậy, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị C, anh C2 theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Lê Thị Kim C và anh Lê Minh C2 kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội vào ngày 24/04/2024 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị C xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị C trình bày là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Vợ chồng không còn chung sống cùng nhau từ cuối tháng 5/2024. Nay chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh C2.
Anh C2 trình bày vẫn còn tình cảm với chị C, hai vợ chồng không có mâu thuẫn trầm trọng mà chỉ do mối quan hệ mẹ chồng nàng dâu. Anh C2 mong muốn được đoàn tụ với vợ để cùng nhau nuôi con nên anh không đồng ý ly hôn.
HĐXX xét thấy, chị C và anh C2 sống hòa thuận được một thời gian rất ngắn kể từ sau khi kết hôn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Anh chị xác nhận đã sống ly thân mỗi người một nơi không ai quan tâm đến ai. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng của chị C và anh C2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu có kéo dài chỉ làm trầm trọng thêm mâu thuẫn. Do vậy, cần chấp nhận cho chị C được ly hôn anh C2 là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Chị Lê Thị Kim C và anh Lê Minh C2 01 con chung là cháu Lê Nhật Q1, sinh ngày 07/06/2024. Hiện cháu Q1 đang sinh sống ổn định cùng chị C tại Tiểu khu V, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Ly hôn, chị C xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh C2 đồng ý quan điểm của chị C về việc nuôi con. Xét thấy hiện cháu Q1 đang sinh sống ổn định cùng chị C. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho con, cần giao cháu Q1 cho chị C là phù hợp. Chị C không yêu cầu anh C2 cấp dưỡng nuôi con nên được ghi nhận. Anh C2 có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản.
[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung:
Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí:
Chị Lê Thị Kim C phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tình cảm:
Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Lê Thị Kim C đối với anh Lê Minh C2. Chị Lê Thị Kim C được ly hôn anh Lê Minh C2.
2. Về con chung:
Giao cho chị Lê Thị Kim C được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Nhật Q1 cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Chị C không yêu cầu anh C2 cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét. Anh C2 có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung, công nợ chung:
Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xét.
4. Về án phí:
Chị Lê Thị Kim C phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0076696 ngày 19/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị C đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo:
Chị Lê Thị Kim C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Lê Minh C2 được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bạch Tuyết |
Bản án số 209/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 209/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Kim C - Lê Minh C
